NHỮNG NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ CUỐI CÙNG

cao-xuan-vy-yÔn cố tri tân-Mời qúy vị đọc „cái gì của Ceasar hảy trả lại cho Ceasar“ Sự Thật phải trả lại cho Sự Thật để Công Lý được sáng tỏ. Cụ Cao Xuân Vỹ từ trần Thứ Sáu 11 tháng 10-2013 tại Huntington Beach, Quận Cam, California. Nhữnữg  ngày bệnh cụ kể lại việc Ô. Ngô Đình Nhu bí mật gặp Ô. Phạm Hùng thuộc đảng CSBV.

ÔNG CAO XUÂN VĨ KỂ VIỆC NGÔ ĐÌNH NHU BÍ MẬT GẶP ÔNG PHẠM HÙNG Ở KHU RỪNG TÁNH LINH-BÌNH TUY

Như đã hứa ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

  1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

  1. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

  1. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

  1. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

  1. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

  1. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

  1. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

  1. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

  1. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.

  1. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

  1. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

  1. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

  1. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

  1. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.

  1. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân. Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lược. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh… Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

  1. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes. Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản? Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

  1. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

  1. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

  1. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.

– Rồi cho dân qua lại tự do

– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn

– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.

– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.

– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

  1. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

  1. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

  1. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao? Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống. Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

  1. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

  1. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phân nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

  1. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

  1. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

  1. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

  1. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

  1. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến. Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

Tác Giả: Minh Võ, San Diego

TẠI SAO NGÔ ĐÌNH DIỆm BỊ GIẾT

Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đưa đất nước Việt Nam vào một khúc quanh lịch sử. Cái chết của hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu, những tướng lãnh tham gia cuộc đảo chánh không ai biết người ra lệnh thủ tiêu hai ông là ai nhưng sau khi tro bụi của cuộc cách mạng lắng xuống những gương mặt đứng phía sau giật dây cho cuộc tàn sát ấy bắt đầu được điểm danh và lịch sử luôn công bằng cho từng người một.

Mặc Lâm phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, một nhân chứng lịch sử, một người bạn, người cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi từ Mỹ trở về Việt Nam chấp chính cho tới khi biến cố xảy ra.

Cái tốt và chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

Mặc Lâm: Thưa ông Bùi Kiến Thành, xin cảm ơn ông cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Ngày 1 tháng 11 hàng năm có lẽ ai theo dõi tình hình Việt Nam trong lịch sử đương đại đều nhớ là ngày mà cuộc đảo chính không những lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn giết cả hai anh em ông ấy tại Sài gòn vào năm 1963. Ông có nhận đình gì về ngày lịch sử này thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Có lẽ cũng là một ngày chúng ta nên ôn lại cái được và cái chưa được cái tốt và cái chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa để chúng ta rút bài học.

Mặc Lâm: Vâng, trước khi đi sâu hơn vào chi tiết xin ông vui lòng cho biết về mối quan hệ của ông với Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Bùi Kiến Thành: Trong khi tôi học ở Columbia vào những năm 1952 cho tới năm 1954 lúc đó thì chí sĩ Ngô Đình Diệm đang ở New Jersey. Cứ mỗi cuối tuần thì ông qua New York thăm chơi với tôi cùng một anh bạn nữa là anh Bùi Công Văn, ảnh là phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cứ tối thứ Bảy thì ông qua ngồi nói chuyện suốt đêm cho tới sáng Chủ Nhật thì ông đi lễ, đi lễ về rồi lại nói chuyện suốt ngày, tới chiều Chúa Nhật thì ông trở lại tu viện Maryknoll.

Chúng tôi sống với nhau trong cảnh bạn cố tri trao đổi như thế trong suốt gần hai năm tại New York trước khi ông Diệm về bên Pháp và sau đó về làm Thủ tướng chánh phủ.

Sau khi ông Diệm về làm Thủ tướng chính phủ chấp chánh vào ngày mùng 7 tháng 7 thì ông Diệm gửi điện qua New York và Washington yêu cầu tôi trở về để giúp đỡ. Ngày 23 tháng 8 năm 1954 sáu anh em chúng tôi là cựu sinh viên của các đại học Mỹ về giúp cho ông Diệm trong thời kỳ rất là khó khăn. Làm Thủ tướng mà không có cảnh sát không có quân đội chỉ vỏn vẹn có 27 sĩ quan đi theo mà thôi.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

-Bùi Kiến Thành

Cả một đất nước do Pháp đang cai trị vì vậy khi nắm lại quyền tự do, quyền tự chủ, quyền độc lập trong thời kỳ đó rất là khó khăn vì vậy chúng ta phải đánh giá cao việc ông Diệm bình định được tình hình, đưa quân Pháp ra khỏi nước Việt Nam một cách ổn định và xây dựng nền đệ nhất cộng hòa. Điều này khi nghiên cứu lịch sử và đánh giá cao tinh thần của cả một thời kỳ không riêng gì ông Diệm mà những người đi theo hỗ trợ giúp đỡ cho ông Diệm, những nhân sĩ ở miền Nam, nhân sĩ ở miền Trung, miền Bắc… tất cả đều có công lớn đã xây dựng chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng rất tiếc rằng sau đó chúng ta không làm được những chuyện ta cần phải làm để đến nỗi bị đổ vỡ.

Mặc Lâm: Thưa ông trong khi gần gũi với Thủ tướng Ngô Đình Diệm ông và các người được Thủ tướng mời về cụ thể làm những việc gì để giúp cho chính phủ còn non nớt lúc ấy?

Bùi Kiến Thành: Tôi bên cạnh ông Diệm suốt ngày mà! Khi tôi về tại Dinh Gia Long ngày 23 tháng 8 đó ăn cơm trưa với ông Diệm và một số Bộ trưởng, Tổng trưởng, có những nhân hào nổi tiếng của Việt Nam như ông Phạm Duy Khiêm, Bác sĩ Bùi Kiến Tín, Nguyễn Văn Châu… chúng tôi hết sức khẩn thiết làm bất cứ việc gì để ổn định tình thế, tôi ở suốt ngày suốt đêm trong dinh một thời gian rồi sau đó tôi mới dời ra ngoài. Sau khi bố trí lại thì ngày nào đêm nào tôi cũng vào trong dinh để mà làm việc với Thủ Tướng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Một là bên Dinh Gia Long, sau nữa khi dời sang Dinh Độc Lập tôi cũng sát cùng ông Diệm như một cộng sự đặc biệt vì cái chỗ thân tình từ khi còn nhỏ kia, khi tôi mới 15-16 tuổi, hồi đó gia đình tôi thân với ông Diệm lắm. Chính ông cụ tôi đã cất giấu ông Diệm trong khi bị Nhật tìm bắt ông. Sau này khi không còn tham chính nữa ông cụ tôi tiếp tục làm y sĩ riêng cho Tổng Thông đến ngay ông ấy bị sát hai. Cái thân tình ấy dẫn tới chỗ hết sức gần với nhau. Tất cả những chuyện thâm cung bí sử, khó khăn trong thời kỳ tháng 8 tháng 9 tới tháng 12 năm 1954 thì thật sự hội lại chỉ có 4 người trong Dinh Gia Long thôi: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Bác sĩ Bùi Kiến Tín và Bùi Kiến Thành. Chúng tôi bàn với nhau cái gì cần phải làm. Làm sao nắm được quân đội, làm sao đối kháng với Bình Xuyên, làm sao giải tỏa được thành phố Sài Gòn xây dựng lên một chính quyền được nhân dân ủng hộ.

Riêng về tôi đặc biệt là có trách nhiệm giúp cho Tổng thống, khi ấy là Thủ tướng, quan hệ với các phái bộ đặc biệt của Mỹ từ bên Mỹ gửi qua chứ không phải quan hệ với sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thân với Pháp, ông đại sứ Mỹ Donald Heath rất thân với Pháp, sau đó thì Lawton Collins cũng thân với ông Cao Ủy Pháp Paul Ely. Công việc của tôi và của ông Ngô Đình Nhu là bắc cây cầu trực tiếp với chính phủ Mỹ ở Washington, qua những phái bộ đặc biệt của Hoa Kỳ gửi qua trong đó có Trung tướng O’Daniel, Đại tá Lansdale sau này là General Lansdal, Paul Hardwood (Trưởng phái bộ CIA), việc của tôi làm lúc ấy cũng chỉ trong 4 người mà thôi bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn.

Xây dựng được tờ báo Tự Do là việc tôi hết sức thú vị. Tôi nói với Thủ tướng mình cần có cơ quan ngôn luận tự do. Tờ báo đó được Bác sĩ Bùi Kiến Tín, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thông tin, ký giấy phép. Tôi tập hợp những nhân sĩ ở Bắc Hà vào làm trong đó có Tam Lang, có Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Vũ Khắc Khoan …làm ban biên tập để cho tờ báo Tự do có tiếng nói tự do trong thời kỳ hết sức khó khăn như thế. Chỉ có tờ báo Tự do lúc ấy là thực sự nổi tiếng, có tiếng nói tự do trong một khung cảnh rất khó khăn và để chống lại những tờ báo thiên Pháp hay thân các chế dộ trước kia của Sàigon và những đài phát thanh khi đó tại Sài Gòn theo phe quân đội chửi bới Ngô Đình Diệm suốt ngày. Tôi có nhiệm vụ lập nên đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, một đài phát thanh đặc biệt để nói lên những sự việc như thế nào trong khi chúng ta phải xây dựng một chính quyền độc lập đó là việc Thủ tướng Ngô Đình Diệm giao cho tôi làm.

TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.

Mặc Lâm: Xin ông nói rõ hơn tại sao đã là thủ tướng mà còn bị đài phát thanh bên quân đội chống phá bằng cách chửi bới công khai như ông vừa nói, phải chăng còn một thế lực nào công khai chống lại Thủ tướng vào lúc sơ khai ấy hay không?

Bùi Kiến Thành: Thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc ấy làm gì có quân? Thủ tướng mà không nắm cảnh sát, công an. Công an trong tay của Bình Xuyên là một đám giang hồ, cướp của. Pháp cho họ quản lý sòng bạc Đại thế giới, Kim Chung… Cảnh sát thì không nắm được còn quân đội thì trong tay của Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Trung tướng Hinh là một người thân Pháp con của ông Nguyễn Văn Tâm, không phải là người ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm vì vậy khi làm Thủ tướng ông Ngô Đình Diệm ngồi trong dinh nhưng cái đài phát thanh là của người khác.

Đài Quốc gia cũng như đài quân đội thì người Pháp, hay thân Pháp, quản lý cứ mỗi ngày chửi bới Ngô Đình Diệm thế này, chửi bới Ngô Đình Diệm thế kia…ngồi trong dinh mà không giải quyết được vấn đề đó vì vậy phải kiên trì xây dựng lực lượng mình lên để giải quyết điều đó.

Xây dựng lực lượng bằng cách thu dụng những nhân sĩ tài ba của đất nước vào ủng hộ mình đồng thời cũng phải có tiếng nói qua cái đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, tiếng nói qua tờ báo Tự Do lúc đó đóng một vai trò quan trọng phổ biến tâm tư nguyện vọng, chính sách của Ngô Đình Diệm cho dân chúng được biết. Vấn đề đó cực kỳ quan trọng và tôi được giao trọng trách tổ chức hai việc đó trong những ngày đen tối nhất sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, tức là những ngày trong tháng 8 tháng 9 năm 1954 cho tới đầu năm 1955 khi bình định xong thì trong hai cơ quan đó, “Đài Tiếng nói quốc dân đoàn kết” không tiếp tục nữa nhưng tờ báo Tự Do vẫn tiếp tục rất tốt. Tờ Tự Do là nguồn dư luận rất tốt trong thời kỳ đó, trong chánh thể đệ nhất cộng hòa. Không có tổ chức chính trị nồng cốt

Mặc Lâm: Báo chí quốc tế cũng như giới tướng lãnh đa số cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ bởi những tuyên bố gây sự giận dữ trong và ngoài nước của bà Ngô Đình Nhu cùng với những hành động đàn áp Phật giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông có chia sẻ gì về việc này?

Bùi Kiến Thành: Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị. Nếu quản lý một nhà nước mà không có tổ chức thì làm sao? Vì vậy cho nên cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nồng cốt để làm việc.

Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức.

-Bùi Kiến Thành

Sau nữa còn có cái lỗi ở chỗ lầm lẫn hai việc khác nhau: quản lý các vấn đề nhà nước là việc quản lý hành chính, còn tổ chức nồng cốt do một chính đảng đứng lên để đóng vai trò cột trụ cho một đất nước thì là một việc khác. Do lầm lẫn ở vai trò lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hành chính cho nên chế độ Ngô Đình Diệm tập trung nhiều hơn về vấn đề hành chính mà quên đi vấn đề lãnh đạo chính trị, xây dựng nồng cốt tức là sự ủng hộ của nhân dân, làm sao để vấn đề đảng được nhân dân ủng hộ…

Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được và vì thế có thể nói sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là vấn đề nhỏ bé như chuyện bà Nhu nói cái này cái kia. Có! nó có ảnh hưởng nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ đối với khả năng xây dựng nên một chính đảng mạnh thì chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được.

Mặc Lâm: Vậy phải chăng do điều mà người ta nhận xét về ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc đã khiến ông bị người Mỹ lo sợ vì không theo sự dẫn dắt của họ, đặc biệt là khi Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

Mặc Lâm: Thưa ông, một câu hỏi cho tới ngày nay vẫn nằm trong bí mật, ông thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên có lẽ hiểu được phần nào câu trả lời: ai ra lệnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và tại sao phải giết họ khi đã nắm tất cả quân đội trong tay và họ đã bị bắt?

Bùi Kiến Thành: Tôi không có thông tin chính xác để nói về vấn đề này nhưng suy luận từ một lần đảo chính trước do Nguyễn Chánh Thi chủ mưu ông Diệm đã lập lại ván cờ bằng cách chỉnh đốn lại, thì lần này Dương Văn Minh và những người theo Dương Văn Minh nghĩ rằng khả năng ông Nhu ông Diệm có đủ bản lĩnh và đủ sự ủng hộ của những quân đoàn còn theo ông ta để lập lại thế cờ thì rất khó khăn cho phe đảo chính. Vì vậy người ta không chấp nhận để cho ông Diệm ông Nhu tồn tại để mà có cái rủi ro đấy. Tôi không có thông tin ai là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm nhưng tôi chắc chắn rằng những người theo phe đảo chánh và nhất là phía Mỹ, thấy nguy cơ Ngô Đình Diệm có thể lập lại thế cờ rất là nguy hiểm vì vậy không để cho Ngô Đình Diệm sống. Đấy là quyết định chính trị chiến lược trong tranh đấu chứ không phải ai làm, hay ai ra lệnh không quan trọng, vấn đề phải tiêu diệt anh em ông Ngô Đình Diệm là để tránh nguy cơ bị lật trở lại.

Mặc Lâm: Trong ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 ông đang làm gì và có theo dõi hay tham gia trong một vai trò nào đó hay không?

Bùi Kiến Thành: Hôm đó tôi đang đi làm việc ở ngoài thì nghe phong phanh ngày hôm đó có bạo động. Tôi gọi về trong dinh thì gặp ông già Ẩn, tức là cận vệ của Tổng thống tôi hỏi anh Ẩn hiện giờ có vấn đề gì không vậy? tôi nghe ngoài này xào xáo lắm, thì ông Ẩn trả lời không có vấn đề gì đâu anh Thành ơi, mình hoàn toàn kiểm soát được mọi chuyện!

Đó là một cái chủ quan đầu tiên tại vì trong buổi sáng hôm ấy ông Nhu đã có sắp xếp một số chiến lược, chiến thuật nhằm giải quyết vấn đề bạo động nhưng vì chủ quan nên không thực hiện được. Tôi nói với ông Ẩn: coi chừng nhé nếu cần gì thì tôi vào trong dinh ngay để giúp cho các anh. Ông Ẩn nói không sao đâu anh Thành, nên tôi về nhà ăn cơm trưa và chờ cho tới hai ba giờ chiều không thấy gì xảy ra. Nhưng khoảng ba bốn giờ chiều tôi gọi lại thì tình hình bế tắc hết tôi không còn làm gì được nữa.

Ngày hôm đó tôi ở Sài Gòn, tôi muốn làm một cái gì đó để giúp đem lại trật tự an ninh nhưng mà cái thời thế có lẽ như là định mệnh của đất nước mình không cho mình làm gì được trong lúc ấy. Có làm gì được nữa trong lúc ấy khi thế lực của kẻ chủ mưu là người Mỹ đứng sau lưng những ông tướng của mình? thế lực ấy nó quá mạnh chúng ta không làm gì được.

Việc đảo chánh ông Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, Dương Văn Minh chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia củng chỉ là con cờ còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này. là người Mỹ mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, anh thấy có đau khổ chưa?

Mặc Lâm: Theo ông thì tại sao các tướng lĩnh lúc ấy lại nghe theo người Mỹ? Vì những hứa hẹn quyền lực hay âm mưu chính trị nào khiến họ trở thành như vậy?

Bùi Kiến Thành: Do những ông tướng không nghiên cứu tình hình đất nước, do không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào mà đi theo lời của nước ngoài để mà sát hại một tổng thống, tưởng mình làm được cái gì nhưng cuối cùng cũng đầu hàng cộng sản mà thôi chứ làm được gì đâu.

Cái tội của những anh đảo chính Ngô Đình Diệm là tội ngu dốt không biết tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình chiến lược trên thế giới nó như thế nào, họ làm cái việc tự mình sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng cộng sản. Đấy là cái tội của các anh làm cho bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chết, đó là tội của các anh vì các anh không hiểu gì về chính trị, hữu dũng vô mưu, đưa đất nước đến chỗ suy tàn.

Nếu chúng ta có cơ hội thì còn thương lượng được giữa miền Bắc với miền Nam, cũng như Tây Đức và Đông Đức có thể thương lượng với nhau. Chúng ta phải có nội lực có sức mạnh để mà thương lượng chứ không phải giao đất nước cho ngoại bang, giao cho Mỹ rồi đi đến chỗ chết.

Đó là tội của những người tự cho mình giỏi hơn người khác. Không thể nào một dân tộc một đất nước nào giữ được chính nghĩa của mình bằng cách bước theo những đội quân nước ngoài bắn phá làng xóm cả. Không thấy cái đó là mất chính nghĩa. Đầu óc các anh ở đâu mà anh vác súng đi theo người Mỹ vào trong làng xóm bắn giết dân chúng mình, như vậy là không thể được. Vì không thấy nên anh làm hại cả một thế hệ, làm hại cả một đất nước.

Mặc Lâm: Nhiều tài liệu lịch sử nói là chính phủ Ngô Đình Diệm từng có ý định nói chuyện với miền Bắc, ông có ý kiến gì về những chi tiết này?

Bùi Kiến Thành: Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, mà chiến tranh khi đã tràn lan rồi thì dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam.

Vì vậy nhìn về chiến lược thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thấy rõ ràng cái nguy cơ tác hại cho cả miền Nam và miền Bắc. Hà Nội cũng có những đầu óc thông minh để mà hiểu rõ sự nguy hiểm khi chiến tranh lan rộng như thế. Đó là đồng thuận về tinh thần là làm sao phải làm dịu chiến tranh xuống để tránh việc tàn phá đất nước. Giữa Nam Bắc Việt Nam phải có sự hiểu biết và tìm giải pháp tránh chiến tranh. Muốn làm việc đó thì Việt Nam phải mạnh, không mạnh thì không nói chuyện được.

Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp…qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẽ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và nó đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bán nước cho cộng sản, vì vậy anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản,  “bán đứng” các anh cho cộng sản….

Những đầu óc suy yếu của những anh tướng hữu dũng vô mưu không biết gì cả, nghe như thế lại tưởng rằng mình là người ái quốc ái quần, lật đổ Ngô Đình Diệm để cứu đất nước khỏi họa cộng sản. Tôi đề nghị anh đọc cuốn sách “Robert Kennedy and His Time” của Arthur Schlesinger Jr. viết, trong đó có một chương nói về tình hình Việt Nam. (*)

Trong chương đó có viết Bùi Kiến Thành nói cái gì, Ngô Đình Diệm nói cái gì và Tổng thống Kennedy đã quyết định cái gì. Rất tiếc rằng Tổng thống Mỹ không thực hiện được. Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 64 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông

Truất Phế Bảo Đại Và Khai Sinh Đệ Nhất Cộng Hòa.

Đến nay một số sử liệu giải mật ngoại quốc và nhiều hồi ký cuả tác giả Việt  có đề cập đến hai ngày trọng đại trong lịch sử Đất nước chúng  ta: Ngày 23.10.1955 Hoàng đế Bảo Đại bị truất phế  và ngày 26.10.1956, ban hành bản Hiến Pháp Việt Nam đầu tiên. Ngày 23 tháng này sẽ đánh dấu 50 năm kỷ niệm việc thay đổi thể chế ở Việt Nam từ một nước Quân chủ lâu đời bước qua chế độ Cọng hòa tân thời. Sự thay đổi vưà nói đã vượt qua nhiều giai đoạn xung đột nội bộ quốc gia, giữa lúc Cọng sản Bắc Việt, thực dân Pháp và giáo phái ở miền Nam VN đang hỗn chiến với nhau. Trong vị thế Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Nội vụ trong Nội các Ngô Đình Diệm từ 1955 cho đến cuối 1959, người viết đã chứng kiến và tham gia trực tiếp vào bi kịch trên đây. Mong bài này giúp độc giả biết thêm một số dữ kiện chưa hề tiết lộ.

Trường hợp dẫn đến quyết định truất phế Bảo Đại.

Hoàng tữ Vĩnh Thụy (hay mệ Vững trong hoàng tộc), sinh ngày 22.10.1913 tại Huế và mất ngày 31.7.1997 tại Paris, hưởng thọ 83 tuổi, là con trai duy nhất của vua Khải Định và vị Hoàng đế chót của triều Nguyễn Gia Long.  Cuộc đời chính trị của ông có thể chia ra thành ba giai đọan: 1) Hoàng đế , 1932-1945.  2) Quốc trưởng, 1949-1955, và 3) Lưu vong, 1955-1997. Khi vua Khải Định băng hà năm 1932 thì Hoàng tử Vĩnh Thụy được 12 tuổi, đang du học tại Pháp dưới sự chăm sóc của vợ chồng cựu Toàn quyền Charles. Ông trở về VN dự  lể tấùn phong và lên ngôi đưới danh hiệu Bảo Đại.

Nhựt đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9.3.1945. Bảo Đại cho thành lập chính phủ Trần Trọng Kim ngày 16.4.1945 theo lời yêu cầu của Đại sứ Yokoyama và tuyên bố hủy bỏ tất cả các Hoà ước bất bình đẳng ký với Pháp năm Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874, Quý Mùi 1883 và Giáp thân 1884. Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày 15.8.1945, thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt Minh (tức Mặt trận VN Độc lập Đồng Minh) biến cuộc biểu tình lối 20.000 người được Tổng hội công chức phát động trước Nhà Hát Lớn Hànội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc tuần hành đòi Độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện. Khâm sai Phan Kế Toại rút lui, nhường chổ cho một Ủûy ban Nhân dân tạm thời, không nêu rỏ danh tánh các thành viên.  Ngày 19 tháng 8, Việt Minh cướp chính quyền trong một cuộc binh biến mà chúng huênh hoang gọi là cuộc Cách Mạng Tháng Tám hay Tổng Khởi Nghĩa.

Trường hợp dẫn đến sự thoái vị ngày 25.8.1945 được chính vua Bảo Đại kể lại trong quyển hồi ký tiếng Pháp “Le Dragon d’Annam” (nxb Plon, Paris, 1980), trang 115-137, với các điểm đáng lưu ý sau đây:

1- Bảo Đại và các đảng phái quốc gia không có một phương tiện thông tin đại chúng nào trong tay và hoàn toàn mù tịt về những biến chuyển thế giới ngoài Việt Nam. Đăc biệt họ không biết gì về quyết định của Hội nghị Postdam nhóm từ 17.7 cho đến 2.8.1945 giao cho Trung Hoa của Tưởng giới Thạch  (trên vĩ tuyến 16) và quân đội Anh  (dưới vĩ tuyến 16) giải giới Nhựt mà không đề cập đến tương lai chính trị của bán đảo Đông Dương. Trong khi đó, Việt Minh đã chiếm rất sớm đài Radio Bạch Mai và có hai nhựt báo Cứu Quốc và Quyết Chiến phổ biến mạnh tại Hànội và Huế.

2- Sự kiện nêu trên tạo ra một khoảng trống chính trị vô cùng có lợi cho Việt Minh. Bảo Đại than phiền, nới trang 118-119 của hồi ký, các lãnh tụ trong khối đồng Minh, từ Truman, De Gaulle, Quốc vương Anh cho đến Tưởng Giới Thạch, không một ai để ý trả lời thơ xin ủng hộ của ông trong khi phiá CS được võ trang và  đã bắt liên lạc với các cơ quan tình báo Mỹ, Pháp và Hoa. Bảo Đại viết: “ Tôi không huy động được quần chúng, các người thân cận của tôi đều ẩn trốn hay âm mưu chống tôi. Trần Trọng Kim và các Tổng trưởng biến mất tất cả. Tôi cô đơn trong một thủ đô chết. Mọi việc có vẻ thuận lợi cho CS như một phép lạ. Sự thành công không thể chối cải của họ có phải là dấu hiệu họ nhận được một thiên mạng, mandat du ciel, hay không? Tôi phải rút lui, như họ đòi hỏi. CS muốn làm cách mạng (révolution). Tôi sẽ thức hiện điều này không đổ máu. Bằng một cuộc tiến trình chính trị (évolution politique)” (trang 119)

Với tinh thần chủ bại ấy, Bảo Đại sẳn sàng hàng đầu. Ngày 22.8.1945, Trưởng ty Bưu Điện Huế mang trình ông một điện tín ngắn gởi từ Hànội của một “Ủy ban đaị diện các đảng phái và quần chúng yêu nước” kêu gọi nhà vua trao quyền cho Nhân dân. Bảo Đại chưa từng gặp một lãnh tụ Việt Minh nào nhưng tin nơi “tính cách chân thành không chối cải” của tối hậu thơ (trang 118). Bảo Đại gởi hai cọng sự viên duy nhất còn lại là Hoàng thân Vĩnh Cẩn và Chánh văn Phòng Phạm Khắc Hoè ra điều tra ngoài Thành Nội, họ trở về tay không. Với sự giúp đở của Vĩnh Cẩn, Bảo Đại liền thảo một điện văn trả lời mời Uûy ban gởi gắp đại diện về Huế để làm lễ trao quyền. Bảo Đại viết: “Tôi cho phóng thông điệp này vào không trung như thảy một ve chai ra biển rộng.” Sáng 25 tháng 8, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận xuất hiện, tuyên bố đại diện chủ tịch Hồ Chí Minh, để nhận ấn kiếm do Bảo Đại trao lại tại Điện Kiến Trung, sau khi nhà vua tuyên bố vắn tắc “Dân vi quý. Trẩm thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một xứ nô lệ” trước một đám đông quần chúng “bỡ ngỡ, kinh ngạc, như bị sét đánh” (Bảo Đại viết).

3- Đa số lãnh tụ các đảng chống Cộng nhận định về sau: Ngày 19.9.1945, Việt Minh không mạnh như ngưới ta tưởng. Chúng thắng vì có lãnh đạo, tuyên truyền giỏi, biết chụp thời cơ – vì các đảng quốc gia lừng khừng, thiếu tổ chức và xâu xé nôi bộ, mặc dù lúc đó Đại Việt Dân chính, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt  Quốc Dân Đảng đã đồng ý thống nhất “trên nguyên tắc.” Hai cố nghị sĩ Trần Trung Dung và Đặng Văn Sung đã xác nhận chua cay với người viết: Việt Minh đã phỏng tay trên cánh quốc gia một cách dễ dàng. Đặc biệt, Bs Nguyễn Tường Bách, cựu chỉ huy với Vũ Hồng Khanh Đệ tam chiến khu của VN Cách Mạng Đồng Minh Hội và VN Quốc Dân Đảng, từ Vĩnh Yên tới Lào kay, thố lộ với người viết: Phe quốc gia lúc đó không biết tí gì về chuyện Việt Minh tổ chức một hội nghị quan trọng tại Tân Trào, Thái Nguyên.  Họ “vẫn ngây ngô tin rằng Nhật còn đủ sức chống cự một thời gian nên không cấp tốc chuẩn bị tổng hành động hay đảo chính!”

  1. Để bào chửa quyết định thoái vị, Bảo Đại lập luận ông muốn tránh nội chiến và bảo vệ sự thống nhất và dân chủ hoá Đất nước sau một thế kỷ Pháp thuộc. Một thời gian ngắn sau, ông ra Hànội nhận chức Cố vấn tối cao (bù nhìn) trong Chính phủ Liên hiệp do Hồ tổ chức và cầm đầu ngày 11.11.1945 dưới áp lực của các đảng. Đầu tháng giêng 1946, Hồ gởi Bảo Đại “đi nghỉ mát” tại Sầm Sơn. Một hình thức lưu đày. Để có thể trở về Hànội, cựu Hoàng ngoan ngoãn nhận chức dân biểu (bù nhìn) tỉnh Thanh Hoá trong Quốc hội Lập hiến với 92% thăm cử tri. Ông thú nhận không biết rỏ bầu cử ngày nào, không có bỏ thăm và cũng không hề đi vận động bầu cử (trang 144). Chưa hết. Ngày 15.9.1946, Hồ sắp xếp cho Tổng thống Tưởng Giới Thạch mời cựu Hoàng qua viếng Trùng Khánh. Đây là cách tống khứ chướng ngại vật Bảo Đại ra khỏi VN. Bị lưu đày lần thứ hai, Bảo Đại trôi dạt về Hồng Kông, tứ cố vô thân, sống lang bạt với vài mỹ kim trong túi. Giữa mùa hè 1948, Pháp làm sống lại “Giài pháp Bảo Đại”. Một số chính khách (Lưu Đức Trung, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Bảo Toàn, Trần Văn Lý, Đặng Văn Sung, Trần Trung Dung..) rủ nhau bay sang Hồng Kông tiếp xúc với nhà vua (trang 161-172).

Trong Hồi ký, dù bị lợi dụng bỉ ổi, Bảo Đại tỏ lòng khâm phục Hồ Chí Minh đã đối xữ với ông “ một cách lịch sự, nể trọng, thân yêu như tình cha con, chẳng những luôn luôn chăm lo vấn đề an ninh và sức khoẻ mà lại còn căn dặn nên thận trọng trong việc giao dịch với phái yếu”(nguyên văn). Vào cuối cuộc đời, Bảo Đại viết: Tôi không nghi ngờ bị chủ tịch Hồ lừa phỉnh, tôi tiếp tục đóng kịch. Dù sao, tôi nghĩ ông ấy nhiệt tình tranh đấu cho sự độc lập của xứ sở. Bất chấp dĩ vãng và phương pháp của ông, tôi thủy chung ủng hộ. Xét cho cùng, tôi thích thái độ của ông hơn thái độ của các nhà lãnh tụ quốc gia, bù nhìn thật sự trong tay Trung quốc, Tout bien examiné, je préfère son attitude à celle des leaders nationalistes, véritables fantoches entre les mains des Chinois (trang 139).

Cuộc sống lưu vong của Cựu Hoàng rất cô đơn tại Paris, trong một gian nhà nhỏ ở đường Fresnel gần đồi Trocadéro. Sau 1975, ông xin rửa tội vào đạo Thiên chúa dưới tên thánh Jean Robert và tái lập gia đình năm 1972 với một phụ nữ Pháp tên Monique Baudot, gốc Lorraine.Ông không có một hoạt động chính trị nào và cũng không tuyên bố gì. Năm 1982, đáp lời mời của một nhóm Việt kiều, ông có qua viếng Californie ba tuần. Ông được an táng ngày 6.8.1997 tại nghiã trang Passy. Một nắm mồ khiêm nhường, bên cạnh ngôi mộ của nhà văn hào Virgil Gheorghiu, gốc roumain, tác giả của quyển sách bất hủ “Giờ Thứ 25”.Không có một  gương mặt chính trị VN nào dự  đám táng thô sơ của vị Hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn.

 

Bảo Đại đã nhân danh chống Pháp để thoái vị và trao quyền cho CS lãnh đạo cuộc chiến kết thúc bằng trận đaÙnh cuối cùng tại Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954. Oái oăm thay, chính đế quốc Pháp đã đặt Bảo Đại trở lại trên ngai vàng để chống lại CS Bắc Việt sau khi, tại Hà Đông, Cao ủy Bollaert tuyên bố Pháp muốn tái đàm với cánh quốc gia.Tháng 8.1948, Bảo Đại chỉ định Trung tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập “Chính phủ Trung ương Lâm thời VN.”

Dưới sự lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại, qua những nội các liên tiếp Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc, Miền Nam VN rơi vào cảnh hỗn loạn. Cuối cùng nhà vua phải kêu cứu đến chí sĩ  Ngô Đình Diệm ngày 9.7.1954, mặc dù trước đó ông Diệm đã ba lần thoái thác.

Hiệp ước đình chiến Genève ký kết ngày 21.7.1954 chia đôi  VN nới vĩ tuyến 17. Bảo Đại gây khó khăn cho ông Diệm bằng cách từ Cannes gởi ngày 28.4. và 30.4.1955 hai công điện liên tiếp triệu hồi TT Diệm qua Pháp để “tham khảo ý kiến” vì ông Diệm khai trừ tướng Nguyễn Văn Hinh,  không chấp nhận tướng Nguyễn Văn Vĩ như tân Tổng tư lệnh Quân đội, cương quyết  kết thúc kế hoạch dẹp giáo phái, quét sạch Bình Xuyên và giải tán tổ chức võ trang UMDC của Leroy. Ý đồ của Bảo Đại là thay thế Thủ tướng Diệm, có thể  bằng Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn, sếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy cảnh sát, công an và kiểm soát sòng bài Đại Thế Giới để cung cấp tiền nong cho Quốc trưởng.

Bị lấn vào chân tường, TT Diệm phúc đáp: Hội đồng Nội các không đồng ý để ông xuất ngọai giữa tình thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các Chính đảng và Nhân sĩ Quốc gia sẽ được triệu tập ngày29.4.1955 tại Dinh Độc Lập để cho biết ý kiến “Thủ tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc trưởng hay không?”. Hội nghị này gồm có 18 chính đảng / đoàn thể và 29 nhân sĩ Miền Nam. Đặïc biệt, ba tổ chức nổi bật vì có thực lực: VN Dân Xã Đảng (Hoà Hảo) mà bí thơ là Nguyễn Bảo Toàn, VN Phục Quốc Hội (Cao Đài) do Hồ Hán Sơn thay mặt và Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN  của Trình Minh Thế, do Nhị Lang đại diện.

Nhị Lang, tác giả của quyển sách “Phong trào kháng chiến Trình Minh Thế” (nxb Alpha, Virginia,1989), kể lại:  đúng 10 giờ sáng ngày ghi trên, Thủ tướng Diệm tiến vào phòng họp với vẻ mặt ưu tư, tuyên bố vắn tắc lý do, xong  kiếu từ ngay, “để  Quý Ngài được tự do thảo luận”. Hội nghị bầu Nguyễn Bảo Toàn vào ghế chủ tọa, Phạm Việt Tuyền vào ghế Tổng thư ký. Như đã thoả thuận với nhau từ trước, Nhị Lang,  NBToàn và HHSơn  khai pháo bằng cách đặt thẳng với Hội nghị một vấn đề  duy nhất: truất phế Bảo Đại., khỏi bàn đến chuyện gì khác. Nếu Hội nghị từ chối chương trình nghị sự này, ba đoàn thể của họ sẽ rút lui liền. Bầu không khí cực kỳ sôi động. Bên ngoài, lúc đó, từ cầu chữ Y, quân Bình Xuyên pháo kích xung quanh Dinh Độc Lập. Các tổ chức và phần tử ủng hộ từ lâu TT Diệm tỏ ra quá khích. Nhà báo Bùi Quang Nga, bút hiệu Văn Ngọc, vừa hô to “Đả đảo Bảo Đại”, vừa tuột giày, ném vào bức chân dung đồ sộ của Cựu Hoàng treo trên vách Phòng Khánh Tiết. Tiếp theo, nhiều nhân vật như Vũ Văn Mẩu, Hoàng Cơ Thụy….công kênh Nhị Lang  lên vai họ để triệt hạ chân dung này giữa tiếng hoan hô vang dội. Hội nghị bầu ra một Uûy ban cách Mạng, sau đổi là Hội đồng Nhân Dân Cách mạng, rồi Hội đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia, thể theo ý kiến của một số nhân vật “ôn hoà” lo ngại chính quyền Diệm sẽ không kiểm soát nổi khuynh hướng cực đoan. Hội đồng này gồm có Nguyễn Bảo Toàn (chủ tịch), Hồ Hán Sơn (Phó chủ tịch) Nhị Lang (Tổng thư ký) và một số ủy viên như Hoàng Cơ Thụy, Trần Thanh Hiệp, Đoàn Trung Còn, Hoàng Phố, Văn Ngọc, bà Đức Thọ, Hùynh Minh Ý, Hà Huy Liêm và Nguyễn Hữu Khai. Cuối cùng, Hội nghị đưa ra một bản Quyết nghị nảy lửa, gồm ba điểm: Truất phế Bảo Đại, giải tán Chính phủ Diệm và ủy nhiệm chí sĩ N Đ Diệm thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm thời, tổ chức tổng tuyển cử, tiến tới chế độ cọng hoà.

Lúc 5 giờ chiều, sau phiên nhóm kéo dài 7 tiếng, chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn mời TT Diệm xuống phòng họp nghe kết quả. Nhị Lang viết: “Khi Thủ tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ Hội nghị này lại quay sang một chiều hướng khác và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy…Thủ tướng Diệm lộ vẻ đăm chiêu và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin quý ngài cho tôi được có thời giờ suy nghỉ kỹ về vấn đề trọng đại này!”(trang 310).

Qua ngày 30 tháng 4, lại một cuôc tập họp đông đảo khác tại Phòng Khánh tiết Toà Đô chính Sàigòn để triệt hạ hình Bảo Đại và nghe N B Toàn, H H Sơn, Nhị Lang tường trình. Trình Minh Thế, Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Giác Ngộ xuất hiện, dân chúng hoan hô. Một Hội Đồng Chỉ Đạo được thành lập, gồm có ba tướng giáo phái này, để bao trùm lên Ủûy ban Cách Mạng, theo lời đề nghị đầy tham vọng của Nguyễn Thành Phương. Khi sáu nhân vật vừa kể lập một phái đoàn vào Dinh Độc Lập lúc 6 giờ chiều, để thông báo cho Thủ tướng thì họ thấy lối 50 sĩ quan Quân đội quốc gia có mặt ở tầng dưới và hai tướng Nguyễn Văn Vỹ và Lê Văn Tỵ trong phòng khách nhỏ ở tầng trên. Trong hối ký “VN Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu, 1989), Trân Văn Đôn  kể lại: Trưa 29.4.1955, Vỹ và Đôn đến nhà tướng Tỵ yêu cầu trao quyền cho Vỹ theo sắc lệnh của Bảo Đại, ông Tỵ trả lời: “Tôi sẵn sàng nếu Thủ tướng ra lệnh”. Tất  cả đồng ý vào gặp Thủ tướng. Chỉ có Đổ Cao Trí đòi ỏ lại: “Các anh vô đi. Nếu có gì xảy ra, tôi đến vây Dinh Độc Lập.” Một bi kịch bất ngờ xảy ra làm đảo lộn lịch sử  Đất nước: Với sự chấp thuận của Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương, Nhị Lang lặng lẽ đột nhập vào phòng khách, chĩa thẳng khẩu súng Colt 45 vào người tướng Vỹ, hô to: “Dơ tay lên, không tôi bắn!”. Vỹ hoảng hốt dơ tay khỏi đầu. Tướng Tỵ liều mạng chạy lại ôm lấy Nhị Lang nhưng bị gạt ra. Nhị Lang gọi Hồ Hán Sơn, chỉ về phiá Vỹ: “Hãy bốc ga lông của ông này cho tôi!”, Sơn  làm ngay. Phóng viên Francois Sully chụp được tấm hình và cho đăng vào báo Life, số phát hành tháng 7.1955. Bộ trưởng Trần Trung Dung cấp báo với Thủ tướng: “Cụ! Cụ! Chúng nó đang định bắt giết ông Vỹ!”. TT Diệm vội ra kéo Vỹ vào phòng. Cố vấn Nhu chạy đến can gián Nhị Lang:“Thôi đừng nóng, mấy ông tướng đang họp bàn với cụ”

Trả lời người viết, Nhị Lang cho biết những diễn tiến sau đó: trong một buổi họp liền tiếp theo giữa TT Diệm, Nhị Lang, Hồ Hán Sơn và hai tướng Vỹ, Tỵ trong phòng ngủ (vừa dùng làm văn phòng) cuả ông Diệm, tướng Vỹ cuối cùng – để được tự do – chịu ký một tuyên ngôn ngắn “tự nguyện từ bỏ hết mọi quyền hành chức chưởng do Bảo Đại ban cho và tự nguyện gia nhập hàng ngũ cách mạng” (nguyên văn). Ngoài ra, lấy lại được chức Tham mưu trưởng, tướng Tỵ cũng bảo đảm “ Vỹ sẽ không làm phản”. Trong suốt phiên họp, Đổ Cao Trí và hai tiểu đoàn Ngự Lâm quân bao Dinh Độc lập để gây áp lực, không ngớt kêu vào xin nói chuyện với Vỹ.  Rốt cuộc, họ êm thấm rút lui vì bị kềm kẹp giữa hai đối thủ, phiá trước là toán binh phòng vệ Dinh Độc Lập của đại tá Vinh, phiá sau là các đơn vị Cao Đài của Nguyễn Thành Phương bố trí tại đường Trần Quý Cáp và Liên Minh của Trình Minh Thế phục kích ở đường Phan Đình Phùng.

Ngày hôm sau. theo Trần Văn Đôn trong hồi ký, tướng Vỹ họp báo cho biết Quân đội sẽ đảo chính vì TT Diệm bị Thế, Toàn và Nhị Lang lấn quyền. Các sĩ quan nhóm, có mặt Nguyễn Hữu Có, Dương Văn Đức, T V Đôn..vv.. Lê Văn Tỵ hỏi: Các anh làm gì đó? Vỹ đáp: Tôi đảo chính!.Tỵ: Anh lấy gì để đảo chính? Vỹ: Quân đội. Tướng Tỵ lột sao cuả mình bỏ xuống bàn: “Tôi lột lon trao cho anh đây. Tôi không theo anh đâu!” Nguyễn Văn Vỹ và Nguyễn Tuyên bay lên Đà Lạt, từ đó qua Cao Miên rồi sang Pháp sống lưu vong. Điểm đáng lưu ý là trong quyển “Le Dragon d’Annam”, Bảo Đại rất vắn tắc, không kể lại những chi tiết trên đây, chỉ ghi rằng ông đồng ý cho tướng Vỹ đảo chính TT Diệm và phủ nhận tính cách hợp pháp của Hội Nghị Toàn Dân ngày 29 tháng 4.

Ngô Đình Diệm có sẳn sàng truất phế Bảo Đại hay không?

Đa số các tác giả trà lời: Không. Trừ Đổ Mậu (“VN Máu Lửa Quê Hương tôi” nxb Hoa kỳ 1986) . Tất cả những ai từng tiếp xúc với ông Diệm đều nhận xét ông luôn luôn giữ thái độ khiêm cung thành tín  khi nói đến các vua chúa triều Nguyễn , kể luôn Bảo Đại,  mà ông không bao giờ phê bình thiếu lễ độ. Người viết còn nhớ: Sau 1956, khi ban sắc lệnh cải tổ hành chính, Tổng thống Diệm đặt trọng tâm vẽ lại bản đồ các tỉnh Miền Nam (thay đổi ranh giới, đặt tên mới, tổ chức quy chế xã, quận và đô thị..vv..)  nhưng giữ nguyên các cơ chế tại Miền Trung do các vua chúa đặt ra,  vì cho rằng tổ chức này không cần canh tân. Khi Bộ Nội vụ, do người viết phụ trách, làm thủ tục tịch thu tài sản của Cựu Hoàng, Tổng thống ra lệnh nới tay, giúp Đức Từ Cung có phương tiện sinh sống  đầy đủ và chỉ thị cho các tỉnh trưởng trùng tu lăng tẩm của những  đấng Tiên Đế.

Chính Nhị Lang thường xác nhận nhiều lần với người viết rằng Thủ tướng Diệm không hiện diện khi Hội Đồng Cách Mạng lấy quyết định truất phế Bảo Đại, ông Diệm tỏ vẻ không thoải mái nhận quyền ủy nhiệm của Hội đồng và không ngờ mọi việc diễn tiến ngoài mọi dự tính như vậy. Nhị Lang viết trong Hồi ký: “Cái Ủy Ban Chỉ Đạo do sáng kiến của Nguyễn Thành Phương đã gieo nghi ngờ trong lòng Thủ tướng chính phủ càng ngày càng ác cảm với tướng Phương và đưa Phương đến chổ suy bại.” Để kềm hảm những thành phần “cách mạng quá khích”, ông Nhu gài những cán bộ thân tín như Hà Huy Liêm, Văn Ngọc, Nguyễn Hữu Khai và Hùynh Minh Ý vào Hội Đồng để gây lục đục. Mặt khác, Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành và tướng Nguyễn Ngọc Lễ, TGĐ Cảnh sát- Công An, áp dụng nhiều biện pháp tạo khó dễ.

Chuyện gì đã xảy ra cho các lãnh tụ cốt cán trong Hội Đồng Cách Mạng và Ủûy ban Chỉ Đạo?

  1. Chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn, đứng đầu Lực lượng Hoà Hảo (tổ chức đông vàmạnh nhất năm 1955),từ chức, trốn qua Phi Luật Tân, rồi bị thủ tiêu khi trở lại VN. Ông là nhân vật từng ủng hộ Giải pháp Bảo Đại và sáng lập viên Mặt trận Thống nhất Quốc gia với Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam. Cựu đại tá Nguyễn Văn Y, nguyên cục trưởng Trung ương Tình báo và TGĐ Công an thời Diệm, hiện ở Virginia, quả quyết với người viết rằng Hội đồng Quân nhân năm 1963 vu oan ông đã giết N B Toàn. Theo ông, công tác này có thể do nhóm Lê Quang Tung hay Dương Văn Hiếu thi hành theo lệnh của Ngô Đình Nhu.
  2. Hồ Hán Sơn, gốc Hà Tỉnh, vào Nam năm 1954, gia nhập VN Phục Quốc Hội

của Nguyễn Thành Phương, đuợc Hộ pháp Phạm Công Tắc vinh thăng Đại tá Cao Đài, tác giả “Nghệ thuật Chỉ đạo Chiến tranh” từng làm say mê Trình Minh Thế. Người lùn thấp, đầu tóc bờm xờm, ăn nói ngang tàng, đã tổ chức một lớp huấn luyện chính trị cho các sĩ quan Cao Đài. Sau biến cố tháng 4.1955, Sơn thất sủng, rồi bị Nguyễn Thành Phương (lúc đó xoay qua chống N Đ Diệm) đưa ra xử tại một phiên họp cao cấp Cao Đài tại số 195 đường Công lý Sàigòn, chỉ vì Sơn đi dùng cơm với Bộ trưởng Trần Chánh Thành, hành động coi như “đào ngũ, tư thông với địch”.  Ở tù tại Bến Kéo, Tây Ninh, Hồ Hán Sơn bị trung úy N.N.V, bí thơ của tướng Phương, hạ sát, ném thây xuống giếng. Theo Nhị Lang kể lại, năm 1961, H M H., em ruột của Sơn, định truy tố Nguyễn Thành Phương trước Toà án, Nhị Lang khuyên y bỏ qua nội vụ.

3- Nhị Lang, tên thật là Thái Lân, xin tị nạn tại Nam Vang cuối 1955 và chỉ trở lại VN sau vụ đảo chính 1963. Đảng viên VN Quốc Dân Đảng, rể của Nhất Linh, ông làm cố vấn từ 1951 cho Trình Minh Thế, lãnh tụ nhóm Cao Đài kháng chiến Liên Minh. Trả lời người viết, Nhị Lang cho biết lý do phải trốn qua Cam-bốt là để tránh sự đàn áp từ một số cơ quan chính quyền. Đặc biệt, Trần Chánh Thành và Nguyễn Ngọc Lễ đã vu khống ông bỏ túi trên một triệu bạc cấp cho Hội đồng Cách Mạng. Có một lần, Nhị Lang bị nhân viên cảnh sát của Trần Bá Thành chận bắt, phải nhờ Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Thinh can thiệp mới được thả.  Lý do khác là Nhị Lang bị kẹt giữa hai lằn đạn, hai tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương (Tòa thánh Tây Ninh) và Văn Thành Cao (Liên Minh kháng chiến, thay Trình Minh Thế tử trận ngày 3.5.1955) tranh dành ngôi vị, không vì lý tưởng. Nhị Lang cũng đã bút chiến dai dẳng với Đổ Mậu tại Hoa kỳ vì Mậu tố ông cọng tác với Sihanouk và CS Mai Văn Bộ. Theo Nhị Lang, Sihanouk đã từ chối trục xuất ông khỏi Cam-bốt theo lời yêu cầu của Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống Nguyễn Hữu Châu. Năm 1970, Nhị Lang giữ vai trò Tổng thơ ký trong “Ủy ban phối hợp Hành động các Chính đảng” – một tổ chức hữu danh vô thực – để giúp cựu chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ ra ứng cử Phó Tổng thống trong liên danh Nguyễn Cao Kỳ tranh với Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh. Một điều khó hiểu là Nhị Lang luôn luôn ca tụng TT Diệm và Cố vấn Nhu. Cho đến ngày ông qua đời năm ngoái ở tiểu bang Colorado.

4- Nguyễn Thành Phương, Tổng tư lệnh Cao Đài Tây Ninh, lãnh tụ Việt Nam

Phục quốc Hội, được TT Diệm vinh thăng Trung tướng, vì thế ủng hộ mạnh mẽ Chính phủ lúc đầu. Hằng tháng, Phương lãnh được một quỹ đen, nói là để giúp quân đội Cao Đài. Ý đồ của Phương lũng đoạn chính phủ bằng Uûy ban Chỉ đạo nóí trên quá lộ liểu nên gây ngờ vực. Sau ngày Trình Minh Thế tử trận, Phương mất chức Quốc vụ khanh và ra mặt chống Diệm cay cú. Phương ra ứng cử Phó Tổng thống, chung liên danh với Nguyễn Đình Quát chống lại Ngô Đình Diệm. Ngày 31.3.1955, khi được biết Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc định thay thế ông trong vai trò quân sự cao nhất trong Đạo, ông quyết định ra tay trước bằng cách “quốc gia hoá” toàn bộ Quân đội Cao Đài, giao cho Chính phủ. Mặt khác, ông phát động một chiến dịch bôi nhọ Toà thánh Tây Ninh khiến giáo chủ Phạm Công Tắc phải cùng với Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa qua tị nạn tại Cao Miên. Nơi đây, P C Tắc ngã hẳn về đường lối trung lập và xây cất một thánh thất đồ sộ, được nửa chừøng thì Sihanouk ra lệnh phải ngưng. Đức Hộ pháp qua đời tại Nam Vang năm 1959. Sau 1975, một nhóm tín đồ vận động đem xác về chôn tại Tây Ninh.

Với cuộc trưng cầu dân ý ngày 26.10.1955, Thủ tướng Diệm trở thành Tổng thống. Chính quyền hạ ngón độc thủ, cho mở ngày 15.2.1956 Chiến dịch Bình định Miền Đông do tướng Văn Thành Cao – đối thủ của Phương – phụ trách, với Bộ chỉ huy đặt ở Toà thánh Tây Ninh. Nguyễn Thành Phương hoàn toàn thất sủng, bị lấy lại công thự số 195 Công Lý.  Cuộc đời chính trị cuả y chấm dứt thê thảm. Trong cảnh túng thiếu, nghèo nàn.

5- Trình Minh Thế là một anh hùng yểu số. Đêm 6.6.1951, đại tá Tham mưu trưởng Cao Đài Trình Minh Thế bất thần “thoát ly” với một số chiến sĩ vào rừng Bưng Rồ, Tây Ninh, để lập chiến khu “chống cộng, đả thực và bài phong”. Đường lối này thích hợp với chủ trương của TT Diệm và đắc nhân tâm hơn các giáo phái khác, phần đông thân Pháp và ủng hộ Bảo Đại. Tuy rất trẻ – 29 tuổi – Thế có một kinh nghiệm khá vững về du kích chiến nhờ được Nhật huấn luyện. Ngày 20.8.1951, một Hội nghị đại biểu nhóm tại Gò Ngải và cho ra đời “Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN”. Quân đội Quốc gia Liên Minh lập hai chiến khu ở Núi Bà Đen và Bù Lu. Mau chóng, tổ chức này gây tiếng vang nhờ tài lãnh đạo của Thế. Trình Minh Thế sinh năm 1922 tại quận Gò Dầu, Tây Ninh, trong một gia đình nông dân, học lực chỉ đến mức primaire nhưng rất thông minh và yêu nước nồng cháy. Toà thánh Tây Ninh và tướng Nguyễn Văn Thành, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, gây khó cho tập thể Liên Minh bằng cách phong toả lương thực và cho tảo thanh trừng phạt nhiều phen.

Ba thành tích làm cho trùm CIA Edward Lansdale chú ý đến Thế: vụ cho bom nổ chậm trước nhà Hát Tây Saigon, vụ mưu sát tướng Pháp Chanson và Thủ hiến Thái Lập Thành tại Sadec và vụ bắt cóc Trần Quang Vinh (thân Pháp, thân Bảo Đại) mà Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc định bổ nhiệm để thay thế tướng Nguyễn Văn Thành.  Sau nhiều lần viếng thăm chiến khu Liên Minh, Lansdale móc nối cho cố  vấn Ngô Đình Nhu tiếp xúc thẳng với Thế. Hoa kỳ đầu tư chính trị vào Liên Minh.

Ngày 31.1.1955, Thủ tướng Diệm đích thân đến Lò Gò, Tây Ninh, gần căn cứ Bầu Gõ của Liên Minh, mời Thế về hợp tác theo những điều kiện thỏa thuận giữa Nhu và Thế. Ngày 13.2.1955, một buổi lễ long trọng được tổ chức tại đại lộ Nguyễn Huệ Sàigon, trước sự hiện diệïn của đầy đủ ngoại giao đoàn, để trên 8.000 quân Liên Minh gia nhập Quân đội Quốc gia. Thế nhận từ tay Thủ tướng mũ nón và ngôi sao Thiếu tướng.  Trươcù ngày về hợp tác, Thế làm một cú ngoạn mục gọi là quà sơ kiến, một món quà có lẽ làm hai ông Diệm, Nhu khá bỡ ngỡ: bắt giữ (và thu âm lén) Bs Phạm Hữu Chương, Tổng trưởng Xã hội, vì Chương thừa dịp viếng Tây Ninh, đến quyến rũ Thế bắt tay với Pháp. Hai nhân vật nhờ móc nối với Trình Minh Thế mà được bổ nhiệm vào Nội các là Huỳnh Hữu Nghĩa (Lao động) và Lê Văn Đồng (Canh Nông).

Ngày 28.3.1955, đáp lời mời của Tổng thống Nam Dương Soekarno, Chính phủ cử Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Văn Thoại, cựu giáo sư Collège de France, hướng dẫn một phái đoàn dự Hội nghỉ Á Phi tại Bandung.  Có đủ mặt lãnh tụ:  Nehru, Chu Âân Lai, Nasser, Sihanouk, Abdul Rhaman..v..v.. T M Thế xin phép tháp tùng, TT Diệm nể tình chấp nhận. Cánh Nguyễn Thành Phương gởi Hồ Hán Sơn làm quan sát viên. Tại Bandung, Thế và Sơn tự ý – không bàn trước nội dung với trưởng phái đoàn – thảo một “Tờ Hịch” bằng Anh ngữ tố cáo Xã hội chủ nghiã. Thế đích thân ôm đi phát cho các phái đoàn trong lúc trên bục, đại diện các nước trung lập thao thao đề cao “5 nguyên tắc sống chung hoà bình.” Theo Trần Văn Đôn (VN Nhân chứng, trang 132), Nguyễn Văn Thoại đã ký vào bản tuyên cáo chủ trương phi liên kết. Ngày 10.5.1955, TT Diệm cải tổ Nội các, Nguyễn Văn Thoại bay chức.

Uy danh của tướng Thế qua mặt Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ và trung tá Quân trấn trưởng Dương Văn Minh, thấy rỏ.  Bởi thế, phần đông sĩ quan trong Quân đội lúc đó – do Pháp để lại – không khỏi xầm xì ganh tị.  Cũng trong thời gian này, Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia (gồm có Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên, Liên Minh và Dân Xã của tường Lê Quang Vinh) ký chung một bản tuyên ngôn đoàn kết và cử phái đoàn trao cho Thủ tướng Diệm một tối hậu thư buộc phải cải tổ ngày 2 tháng 5 là thời hạn chót. Được Mỹ ủng hộ âm thầm, ông Diệm từ chối. Để cứu Chính phủ, tướng Thế họp báo tuyên bố Liên Minh rút khỏi Mặt trận. Bảy Viễn bắt đầu cho pháo kích Dinh Độc Lập. Mọi việc diễn tiến mau lẹ ngày 29.4.1955 như ghi trên. Ngày 3.5.1955, bất ngờ Thủ tướng Diệm cử Thế tấn công Bình Xuyên, dù ông dư biết mối giao hão cá nhân tốt giữa hai bên. Phải chăng để thử lòng? Một thâm mưu? Tướng Thế nhận sự bổ nhiệm đầu tiên này.

Theo Nhị Lang kể lại: Đúng 7 giờ chiều ngày 3 tháng 5, Thế mất trong lúc ông đích thân đứng trên chiếc quân xa đi đầu để chỉ huy lính Liên Minh tiến qua cầu Tân Thuận, phiá Nam Sàigòn. Một viên đạn carbine duy nhất bắn rất gần vào lỗ tai bên phải xuyên qua mắt trái.  Thế chết tức tốc. Người bắn viên đạn núp dưới chân cầu không thể cách xa mục tiêu hơn 10 thước. Khi đem xác về căn gác nhỏ ở đường Trương Minh Giảng thì tròng mắt và hàm răng giả của tướng Thế đã bay mất. Thủ tướng Diệm và cố vấn Nhu đòi đến thăm liền. Nhị Lang đề nghị đợi đến hôm sau vì lý do an ninh. Tờ mờø sáng ngày 4.5.1955, hai ông Diệm, Nhu đến. Tháp tùng có tướng Tỵ, toàn thể Nội các và Bộ Tham mưu. Thủ tướng đầm đià nước mắt, ôm ghì thi hài tướng Thế và ngất xiủ. Ông Nhu thì quỳ bên giường, nắm tay người chết, vưà kêu than ai oán “Anh Thế ơi”. Chính phủ vinh thăng T M Thế lên trung tướng và tổ chức lễ quốc táng ngày 6 tháng 5.  Thế có mặt tại Sàigòn vỏn vẹn 80 ngày. Đại tá Văn Thành Cao, tay mặt của Thế, thăng cấp thiếu tướng. Lúc Thế tử trận, Cao về Đồng Tháp Mười để kiếm thêm viện binh Liên Minh vì Thế không dùng lính quốc gia, theo lời Nhị Lang.

Về cái chết của tướng Thế, có nhiều giả thuyết: Sau 1975, cựu trùm Đệ nhị phòng Savani viết một bài thú nhận đã chủ mưu giết Thế để trả thù các tội ác chống Pháp. Nhị Lang, trong Hồi ký, thì quy trách cho Mai Hữu Xuân và cực lực phản bác tin đồn vô căn cứ là do lệnh của ông Nhu, để trừ hậu hoạn. Trong nhiều đọan của hồi ký, trang 395 và tiếp theo, Nhị Lang than phiền Văn Thành Cao bỏ rơi Liên Minh để thụ hưởng, khiến cho một số sĩ quan của Thế trở vào bưng biền đầu tháng 9.1955 vì cho rằng chính quyền Diệm không thi hành các cam kết ngày 31.1.1955 tại Lò Gò. Có lẽ vì sự bất mãn đó, họ phao đồn Cao có liên hệ đến vụ bắn Thế.  Cuối 1956, Cố vấn Ngô Đình Nhu có trao cho người viết  (phụ trách Bộ Nội vụ)  một hồ sơ  tố  Cao dự trử võ khí riêng. Tướng Cao có giải thích với người viết đây chỉ là một việc tư thù. Nội vụ được xếp.  Cao là sĩ quan mang danh hiệu Liên Minh duy nhất được Đệ nhất và Đệ nhị Cọng hoà trọng dụng trong nhiều chức vụ (kể cả Đại biểu Chính phủ Miền Đông năm 1960, Ủûy ban Lãnh đạo Quốc gia thời N V Thiệu, Phòng nghiên cứu du kích chiến, Bộ Tổng Tham Mưu..v..v..). Sau 1975, ông bị đi cải tạo trên mười năm. Ông là một người thân tín của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1999, qua sự giới thiệu của cựu đại tá Cao Đài Đặng Quang Dương, hiện ở Dallas, nay trên 90 tuổi, cấp chỉ huy củ của Thế và Cao, người viết gặp tại Orange County bà quả phụ Trình Minh Thế nhủ danh Nguyễn Thị Kim (hiện ở Calgary, Canada) và đặt câu hỏi. Bà Thế không đồng ý với Nhị Lang và có vẻ ấm ức nhiều chuyện. Cái chết của tướng Thế còn có ẩn khúc. Đặc biệt, tướng Lansdale, trong hồi ký, cũng không quy trách rỏ ràng cho ai cả. Thời Đệ nhị Cọng hoà, ông có trở qua VN, đứng chủ hôn cho Trình Minh Nhựt, trưởng nam của Thế, cưới vợ.

Cuộc trưng cầu dân ý ngày 26.10.1955

Quyết nghị ngày 29.4.1955 của Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng khiến Thủ tướng Diệm không thể tránh tổ chức Trưng cầu Dân ý, dù muốn hay không. Trong thâm tâm, là một quan lại của Triều dình, ông Diệm bảo hoàng và rất lo ngại phạm tội khi quân (crime de lèse majesté). Nếu không bị Bảo Đại lấn ép quá đáng, ông không bao giờ có thái độ phạm thượng. Cố vấn Nhu, vốn không có cảm tình với chế độ quân chủ, dứt khoát hơn. Vấn đề là chụp thời cơ, đừng để quyền lực vuột khỏi tầm tay, chận các khuynh hướng quá khích – phiá quốc gia cũng như giáo phái đối lập – khuynh đảo chính phủ. Trong tình thế nguy kịch, gần như tuyệt vọng, Ông Diệm rất cần sự ủng hộ của thực lực Trình Minh Thế, được Lansdale bảo đảm, nhưng ông cũng biết Thế là một con dao hai lưỡi, một con ngựa bất kham, có nhiều cao vọng. Thế đã cố gắng thuyết phục ông Nhu – nhưng thất bại – vượt Bến Hải, chiếm hai tỉnh địa đầu Bắc Việt lập cái thế quân bình. Thế tánh tình bộc trực, ngang tàng, độc lập. Thế có đầu óc chính trị, tuy hợp tác với Chính phủ nhưng vẫn giữ mối giao hảo thân tình với Năm Lửa, Bảy Viển và đặc biệt Ba Cụt. Có lần Lê Quang Vinh và vợ là Cao Thị Nguyệt vào chiến khu thăm Thế, hai bên có vẻ tâm đầu ý hợp. Nhị Lang kể lại trong hồi ký, trang180: Trước khi ra về, Ba Cụt nói với Thế: “Miền Đông có anh, Miền Tây có tôi, chúng ta sợ gì lũ cộng sản? ” Tuy nhiên, theo gót “thầy dùi” Lansdale, vai trò king maker của Thế lộ liểu quá sớm. Điều này không khỏi làm Ngô Đình Nhu suy nghĩ.

NẾU (người viết nhấn mạnh vào chữ nếu) Thế dẹp được Bình Xuyên năm 1955– một bài toán tình cảm đối Thế – và nếu Ba Cụt không bị xử tử năm1956 thì chuyện gì xảy ra? Trình Minh Thế sẽ lên thế Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ? Bao lâu, TT Diệm (và ông Nhu) có thể kiểm soát một Trình Minh Thế ngang tàng và một Lê Quang Vinh ngang ngược trên con đường phản lọan? nhất là từ 1960 Hoa kỳ bắt đầu bỏ rơi chế độ Diệm? Hoa kỳ sẽ dùng Thế và Vinh chống Diệm cách nào? Đó là bi kịch của Miền Nam VN.

Lịch sử sẽ không thể phủ nhận nhóm Trình Minh Thế đã đóng một vai trò quyết đinh chuyển Miền Nam VN từ thời đại quân vương qua chế độ dân chủ. Nền Đệ nhất Cọng hoà khó thể ra đời sớm nếu thời cuộc không diễn tiến bất ngờ như trên, ngoài mọi ức đoán của cả Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Hoàng đế Bảo Đại.  Lịch sử cũng không thể quên cố vấn Ngô Đình Nhu là một nhà mưu lược thượng thặng, trong cã hai nghĩa tốt và không tốt.

Trong VN Nhân Chứng, trang 133, Trần Văn Đôn viết: Theo ông Nhu kể lại, trước ngày trưng cầu dân ý, TT Diệm tự tay viết một là thư dài giải thích tình hình và mời Bảo Đại về nước lãnh đạo nhưng Cựu hoàng đòi một triệu mỹ kim. Trong Le DragonD’Annam, trang 342, Bảo Đại cho biết ông không đồng ý lập một chính phủ lưu vong, không chịu « dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới » và phủ nhận chính sách Ngô Đình Diệm. Cựu chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ nhận xét nơi trang 30 của hồi ký “VN, Où est la Vérité? ” (nxb Lavauzelle, Paris  1989): Trên phiếu, dân chúng có thể chọn trả lời một trong hai câu hỏi : 1) tôi truất phế Bảo Đại và chọn N Đ Diệm như  Tổng thống VN với sứ mạng lập một thể chế cọng hoà  hay 2) tôi không truất phế bảo Đại và không công nhận N Đ Diệm như Tổng thống  để thành lập thể chế cọng hoà. Kết quả: ông Diệm thắng 98.2%. Tỷ lệ này có vẻ không hoàn toàn trung thực, dù quần chúng mến mộ nhiệt tình ông Diệm lúc đó.

Bầu Quốc hội Lập hiến (tháng 3.1956) và ban hành Hiến pháp Đệ nhất Cọng hoà (ngày 26.10.1956).

Quốc hội Lập hiến gồm có 134 dân biễu thuộc bốn đảng thân chính phủ, không có đối lập. Ủy ban soạn thảo Hiến pháp gồm có Trần Văn Lắm (chủ tịch), Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, Vũ Quốc Thông và Trương Vĩnh Lễ. Hiến pháp phỏng theo các hiến pháp Hoa kỳ và Pháp. Phủ Tổng Thống đề nghị tu chính một số điều khoản, Quốc hội chấp thuận. Việt Nam là một nước Cọng Hoà theo thể chế độc viện, có một Tổng thống và Phó Tổng thống cử theo lối phổ thông đầu phiếu. Hiến pháp không chấp nhận một người có thể nắm giữ hai chức Hành pháp và Lập pháp. Không có điều khoản nào cho phép truất phế, impeach, khi Tổng thống phạm trọng tội. Ngày 26.10.1956 ban hành Hiến pháp được chọn làm Ngày Quốc khánh. Trần Văn Lắm và Vũ Quốc Thông là chủ tịch và phó chủ tịch đầu tiên của Quốc hội.

Uy quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm mổi ngày thêm vững, ít nữa cho đến cuối 1960. Ngày 20.7.1955, Chính phủ Diệm tuyên bố không chấp nhận chuẫn bị tổng tuyển cử qui định bởi Hiệp ước Genève. Với sự cọng tác của Bộ Nội vụ do người viết phụ trách, Hội đồng Nhân Dân Cách mạng tổ chức một cuộc biểu tình vỉ đại để đuổi về Bắc phái đoàn Văn Tiến Dũng trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến (gồm có Ba Lan và Aán độ). Văn phòng đại diện CS đặt tại khách sạn Majestic, Bến Bạch Đằng. Majestic bị phóng hoả, gây thiệt hại trên 5 triệu bạc, cũng như một khách sạn khác mang tên Galliéni ở đường Trần Hưng Đạo. Văn Tiến Dũng và các đồng chí thoát thân về trại của chúng ở Gia Định, bên cạnh nhà thương Nguyễn Văn Học. Nhiều ngày liên tiếp, đồng bào di cư, sinh viên, học sinh.cô lập họ bằng những lời chửi rủa thậm tệ. Điện, nước, lương thực bị cúp hoàn toàn. Cuối cùng Uy Hội liên lạc với chính phủ xin bảo đảm cho phái đoàn Bắc Việt rời Sàigòn. Tổng Nha Cảnh sát / Công An cho những chiếc xe nhà binh bít bùng chở chúng lúc trời hừng sáng đến Tân Sơn Nhứt dưới sự đả đảo vang dậy của quần chúng. Tác giả bài này đích thân đến phi trường kiểm soát mọi thủ tục. Vào lúc máy bay Uûy hội sắp cất cánh, một sĩ quan CS hốc hác, đầu đội nón cối, không mang phù hiệu, bước đến chào người viết theo lối nhà binh, tự xưng là thiếu tá Văn Tiến Dũng. Y  tỏ lời cám ơn giúp phái đòan ra đi trong trật tự.

Kết luận

Năm chục năm thấm thoát trôi qua. Dở lại những trang sử củ, lòng buồn vô hạn. Chính trị đã đẩy xứ sở xuống đến tận đáy vực của tang tóc và chia rẻ, nhân danh một cuộc chiến tương tàn do Đế quốc giựt dây. Đất nước đã thí nghiệm đau đớn nhiều thể chế: Quân chủ, Dân chủ và Xã hội chủ nghĩa. Đến nay, vẫn chưa tìm ra đáp số cho các vấn đề chậm tiến, Tự Do và Thống Nhất. VN vẫn là một con thuyền say, trôi dạt không bờ, không bến.  Nhóm cầm quyền ở Hànội vẫn bịt mắt trước cảnh khổ nhục của Việt Nam. Chừng nào chúng mới thức tỉnh?

LÂM LỄ TRINH

 

 

Advertisements

2 thoughts on “NHỮNG NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ CUỐI CÙNG

  1. nhân chứng cuối cùng vừa qua đời vì tuổi tác,ô. CAO XUÂN VỸ nhưng sự thật chưa phải cuối cùng,có thể còn nhiều nửa câu chuyện xảy ra trong lịch sử dân tộc từ 6,7 chục năm trước từ 2 bên :quốc gia hoặc CS,,,quan trọng là lương tâm để viết lại cho đời sau phán đoán xét xử hợp với đạo lý con người,,,công trạng phải rỏ ràng minh bạch
    anh em tt NGÔ ĐÌNH DIỆM 1 nạn nhân của sự can thiệp quốc tế vào VN,cả HK lẩn cs quốc tế,1 lảnh tụ 1 huyền thoại kém may mắn của miền nam VN

  2. ” Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại sao viết là 1 nạn nhân của sự can thiệp quốc tế vào VN ” ?

    Người Hoa Kỳ đưa ông Diệm lên làm tổng thống . Sau đó ông không làm theo ý người Hoa Kỳ , do đó bị loại ra cuộc chơi chính trị .

    Ông Nhu ngày xưa làm việc cho ông Hồ Chí Minh , sau đó làm cho ông Diệm .

    Sau không thấy nhắc tới ông Ngô Đình Cẩn ? .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s