NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA

nhung-ngay-cuoi-o-viet-nam-6-103059131Đại sứ Martin nói về những ngày cuối tại Việt Nam.

Nếu có một nhân vật biết được ngọn ngành mọi việc mọi trò của những người ở đấy (Sài Gòn, Việt Nam) thì chính là tôi. Nhưng vào giờ phút cuối, có những người khác nữa làm gì, thì chịu, tôi không biết đích xác cho nổi. Một ông đã gây rối cho tôi như thế lại chính là một bạn tốt, mà đến nay tôi vẫn thích, đó là Erich Von Marbod. Erich Von Marbod đến từ bộ Quốc phòng. (Phụ tá thứ trưởng quốc phòng) Ông ta cho không quân Việt Nam bay đi vài chiếc F-5 của họ sang Thái. Việc này trái lệnh tôi. Một mặt, chả quan hệ gì. Nhưng mặt khác, lại vô cùng hệ trọng. Bởi vì tôi đã yêu cầu Kissinger một thời hạn, tôi nói là 2 tuần. Chúng tôi cố mang đi tất cả các nhà thầu cộng tác quốc phòng mà chúng tôi không thể rõ hết là những người ấy ở những nơi nào. Không thể bỏ họ lại mà đi. Đó là lúc cần đòi hỏi sự chậm rãi, sự thận trọng, cho nên việc Erich Von Marbod thuyết phục tướng Trần văn Minh cho mấy cái phi cơ bay sang Thái là một lỗi lầm rất lớn. Nó làm người Thái e ngại. Rồi những người đưa phi cơ sang bên ấy lại bị dấu diếm, họ không được báo trước rằng sau đó họ sẽ không được phép trở về với gia đình. Để làm họ dịu xuống, người ta phải phục thuốc họ. Và chính những người này đã gây rối khi đến Guam. Lỗi của tôi, đáng lẽ tôi phải tống cổ Von Marbod từ hai ngày trước. Đáng lẽ tôi cũng phải tống cỗ cả Polgar đi; hắn không biết trời đất gì. Hắn không xứng đáng điều khiển cơ quan tình báo ở đấy. Hắn muốn chơi trội cùng với gã Malcolm Browne bên tờ Times và các ông bạn Hung Gia Lợi của hắn bên Ủy hội Quốc Tế kiểm soát đình chiến, rồi cả William Colby lẫn Kissinger đều nói lại với tôi việc ấy và tôi đã nói với Polgar rằng nếu anh cứ tiếp tục làm những việc như thế, tôi sẽ cắt 2 cái hòn dái nhét vào mỗi lổ tai của anh một hòn. Jim Kean đã nghe tôi nói với hắn như thế trong cầu thang máy.

Tôi đã không có gì để ân hận nhiều ngoài việc ân hận đã không tống cổ cả Polgar lẫn Von Marbod từ sớm. Họ đi hay ở cũng chẳng có gì khác biệt. Chỉ có khác biệt trầm trọng mà sau đó tôi khám phá ra khi đọc tấm điện văn của các tướng Bắc Việt; họ nghĩ việc đưa mấy chiếc phi cơ sang Thái là chúng ta đã nuốt lời hứa với họ. Chúng ta đã nói chúng ta sẽ không mang các chiến cụ đi. Chúng ta chỉ muốn họ để chúng ta yên ổn ra đi trong trật tự. Vì họ nghĩ chúng ta nuốt lời, hôm sau họ pháo kích phi trường, giết mất vài Thủy quân Lục chiến của chúng ta. Vì vậy, đến lúc tôi phải hạ lệnh trực thăng vận. Đây là lúc mọi sự bắt đầu bung ra.

Tôi vào Tân sơn Nhất xem xét sau khi xảy ra vụ pháo kích. Hơn ba mươi năm trước, tôi đã là đại tá không quân, bổ nhiệm từ 1936, nên những chuyện phi cơ, cái gì bay được cái gì không, tôi nắm trong bàn tay. Tôi đã là tư lệnh phó sư đoàn Thái Bình Dương thời  đệ nhị thế chiến, kiêm chỉ huy quân báo. Việc gì tôi làm, tôi làm cật lực, tôi nắm vững, tôi biết rõ. Buổi sáng 29/4  hôm ấy ở phi trường Tân sơn Nhất, họ bảo tôi máy bay không đáp xuống được. Chuyện này vô lý. Ra tận đấy quan sát, tôi vẫn thấy chuyện họ nói chả nghĩa lý gì, người ta chỉ cần vác một chiếc xe díp quần ra phi đại ba mươi phút là dọn sạch mọi thứ vụn vặt. Nhưng lúc ấy, quả là bên quân đội Việt Nam bắt đầu rối loạn. Chỉ huy cao cấp đã chạy, Tân sơn Nhất không còn chỉ huy nữa. Trong tình trạng này nếu máy bay đáp xuống là bị tràn ngập bởi đám đông vô kiểm soát. Chúng tôi cần dựa vào quân đội Việt Nam để di tản trong vòng trật tự, và chúng tôi cũng đã hứa với họ phút cuối sẽ bốc họ đi. Nhưng đến giây phút ấy, không còn có sự bảo vệ của họ nữa.

Vì Tân sơn Nhất hết bảo đảm được an ninh cho máy bay có cánh đáp xuống, nhưng khu vực văn phòng tùy viên Quân sự hãy còn hệ thống phòng thủ tốt, chúng tôi bèn cho trực thăng đáp xuống khu vực này thay vì Tân sơn Nhất.

Tôi liên lạc với hạm đội, và với sự khẳng định của Hoa Thịnh Đốn, tôi nói với mọi người, tôi nói với rất nhiều người Việt là: “Chúng tôi không thể bảo đảm di tản tất cả quý vị. Nhưng nếu quý vị có thể dùng thuyền ra khơi, chúng tôi vớt.” Chúng tôi đã cho tàu đậu ngoài khơi ba ngày ròng rã để vớt người đến khi tàu chật ních. Khi sĩ quan chỉ huy cho biết nếu cứ tiếp tục, có thể bị bệnh dịch đe dọa, lúc ấy tôi mới cho tàu đi. Tôi cũng ra lệnh cho 2 máy bay tại căn cứ Clark đáp xuống Vũng Tàu để bốc gia đình lính Thủy quân lục chiến Việt Nam. Đề đốc Geyler phản đối nhưng tôi gạt đi. Hai chiếc máy bay đáp xuống, hoàn tất việc bốc trong vòng mười lăm phút rồi thẳng cánh bay qua Clark. Từ giờ phút ấy, Thủy quân lục chiến thuộc quyền điều động của tôi. Họ phụ trách bảo vệ trong trường hợp chúng tôi cần di tản ra từ bải biển. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương không có nhiệm vụ di tản người từ bãi biển ra. Từ nhiều tuần trước ngay việc đáp phi cơ trinh sát xuống, họ cũng không chịu, nhưng chúng tôi vẫn cứ làm. Đấy, tôi đã phải đối phó công việc với những cách thức như vậy. Còn về câu chuyện cây me, thật là một câu chuyện vô nghĩa. Hạ cái cây xuống cũng là chuyện hoàn toàn vô nghĩa. Cây me này chả mang môt biểu tượng gì. Về chuyện này, mục đích là tôi cố giữ cho Sài Gòn một bộ mặt yên tĩnh, phải tránh mấy chuyện rối loạn đã từng xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang. Ngoài ra, quỷ thần ạ, cần gì phải chặt cái cây ấy để lấy chỗ cho trực thăng? Nên tôi bảo” Để cái cây ấy yên đi” Đơn giản thế thôi. Khi cần phải chặt, chỉ mười phút là xong. Cuối cùng mọi sự cũng đã xảy ra y như vậy. Chúng tôi không muốn có một hành vi bộc lộ rằng chúng tôi đang thua chạy, để Sài Gòn phải nháo nhào lên.

Cái cây này tuyệt nhiên không biểu tượng gì cho sự có mặt của người Mỹ. Nhưng về một phương diện, Jim Kean cũng có lý khi nói vậy. Bởi vì nó là cái dấu hiệu vật chất cho thấy chúng ta sắp rời đi, nên tôi phải che đậy. Việc tôi giữ cái cây ấy chẳng có ý nghĩa thâm thúy gì như đó là biểu tượng cam kết của chúng ta cả. Vào những giây phút chót, có nhiều việc không thể làm ngơ. Về những việc này bộ trưởng quốc phòng James Schlesinger đáng phải lãnh điểm xấu. Ông tỏ ra ngu xuẩn, nhiều phần trong con người ông luôn luôn như vậy

nhung-ngay-cuoi-o-viet-nam-5-103034693Chúng tôi có một gã tên Stuart Herrington làm dưới quyền đại tá Madison. Gã này đang giúp việc xếp người vào trực thăng trong sân tòa Đại sứ. Gã có biết cái gì hơn là xếp người? Nhưng khổ nỗi, gã là thứ mồm loa mép giải, đáng lẽ biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Đằng này ai hỏi gì gã cũng trả lời láo lếu. Vì thế khi các phi công bay vào, họ muốn hỏi tôi còn phải chở bao nhiêu người nữa, gã Herrington mau mồm nói  “Hai ngàn hoặc hai ngàn rưởi nữa.” Ông đề đốc  Noel Gayler ở ngoài hạm đội dãy nảy như gái ngồi phải cọc. Chở nhiều quá lỡ xảy ra tai nạn, ai gánh đây? Là người phụ trách công tác, ông ấy bèn áp lực khủng khiếp mà thúc chúng tôi “Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ xong là đi quách đi, bỏ những người khác lại.” Chuyện này không được. Đây là chuyện mà tôi từ chối. Brent Scowcroft đã hứa với tôi rằng sẽ có năm mươi chuyến trực thăng cho người Việt và Đại hàn mà chúng tôi cam kết. Chúng tôi đã đếm kỹ lưỡng số người khi kéo họ qua bức tường lọt vào tòa Đại sứ. Nhiều người là những nhân vật trọng yếu, có người là bộ trưởng chính phủ. Tất nhiên chúng tôi không có ý định mang họ vào rồi bỏ họ mà đi! Khốn thay, lời nói của gã Herrington với viên phi công được chuyển tới ông đề đốc, rồi chuyển tới tư lệnh Thái bình Dương, lời nói ấy chuyển vòng đến bộ trưởng quốc phòng Schlesinger ở Ngũ Giác Đài. Các tướng tham mưu thúc hối Schlesinger rằng: “Hễ cứ hỏi là lúc nào Martin cũng bảo còn 2000 nữa, bất kể đã chở được bao nhiêu. Cứ cái đà này đến phút chót vẫn là 2000!”  Trong công tác bê bết máu lửa này dựa trên lời hứa Scowcroft, chúng tôi đã phải thực sự tính toán cẩn thận: Cứ mỗi chuyến chín mươi người. Ông ấy là cố vấn an ninh của tổng thống, không tin ở ông thì tin vào trời đất quỷ thần nào? Thế rồi đột ngột họ gửi điện văn bảo: Chấm dứt. “Chuyến trực thăng kế tiếp đến, xin ông đi cho!” Tất cà chỉ vì gã Herrington này, và sau đó anh ta lại viết sách và trở nên một đại anh hùng!

Tôi cũng lấy làm phiền về viên chỉ huy an ninh tòa đại sứ, người lãnh trách nhiệm di tản cảnh sát Việt Nam. Tôi đã giữ riêng cho họ hai cái tàu trên sông, nhưng ông ta cứ lằng nhằng muốn đưa họ ra đi sớm. Phía tướng tá Việt Nam báo cho tôi biết: Không có cách gì để duy trì trật tự trong thành phố nếu tôi rút cảnh sát Sài Gòn đi. Vì thế tôi bảo ông ta khoan lại, đợi đến ba giờ trưa hãy đi. Ông ta bực bội chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Nhưng ông ta cũng đợi được đến ba giờ trưa rồi cho cảnh sát lên tàu di tản cùng với gia đình họ. Tôi không có gì để than phiền nhiều về chiến dịch di tản này vì tổng thống và Kissinger đều đứng bên tôi, hỗ trợ tôi cho đến tận giây phút cuối cùng.

Tôi không bảo chiến dịch ấy hoàn hảo, nhưng khi duyệt xét lại, tôi có quyền hỏi: “Ai có thể làm khác hơn trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy?” Khi rời tòa đại sứ tôi biết đấy là giây phút lịch sử. Chắc chắn  như vậy, nhưng trước đây tôi từng hỏi Hoa thịnh Đốn: “Chúng ta có sự lựa chọn, trong sự lựa chọn đó cần phải hỏi: Sau tôi, còn những việc gì sẽ xảy ra? Đối phương sẽ lấn chúng ta hơn nữa, ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta cần phải giữ những lời cam kết của chúng ta!”

Trong lúc trực thăng bay, tôi nghĩ chúng tôi đã rũ bỏ xong. Chúng tôi mang hết người Mỹ ra đi, đó là trách nhiệm chủ yếu của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang được một số lớn người Việt trong khả năng chúng tôi. Đáng lẽ chúng tôi nên mang đi nhiều hơn nữa, chúng tôi đáng lẽ phải mang 400 con người cuối cùng ấy ra đi, nhưng rất tiếc chỉ vì sự lôi thôi đã xảy ra trong lúc rối loạn như thế thôi.

Tôi nghĩ người Mỹ có quyền hãnh diện về chiến dịch di tản. Phần tôi chẳng có gì dính liu đến chuyện phải xin lỗi cả. Tôi đã nhận lãnh nhiều trách cứ về vụ Việt Nam. Chính vì thế mà rất lâu sau, đợi cho mọi thứ lắng xuống, tôi mới ra Quốc Hội để mọi người đứng lên nhận lãnh trách nhiệm và nhận lỗi của mình, và họ đã làm như thế.

Dẫu sao tôi cũng có nhiều điều thích thú. Tôi không bao giờ lo rằng mình có thể bị giải nhiệm. Nên tôi tính nếu bị sa thải, thì sẽ về ngồi với cái máy chữ mà viết.

Áp lực của nhóm chủ hòa đã áp đặt trên hệ thống giáo dục, mà sự mù quáng của chủ trương “đừng-làm-một-cái gì-có-thể-gây-tranh-luận-hoặc-bị-tấn-công” Đã có khuynh hướng chế ngự hệ thống giáo dục chúng ta, do đó các nhà xuất bản sách giáo khoa hoặc giả lơ chuyện Việt Nam, hoặc chỉ mô tả sơ sài nhạt nhẽo chẳng giúp ai có thể hiểu sự thực thế nào. Điểu này đáng tức cười, bởi vì về phương diện khác, nó lại là điều tốt. Thỉnh thoảng nói chuyện với sinh viên, tôi nhận ra đa số chẳng những không hiểu biết gì, mà còn ngây thơ về chuyện Việt Nam. Nhưng chính vì thế, họ lại có thể tìm hiểu với một quan điểm hoàn toàn khách quan. Chính vì thế, họ trở thành nhóm người duy nhất tại nước Mỹ có thể nhìn mọi sự với quan điểm khách quan ấy. Nhưng vì vậy, khi thấy được những sự kiện phô bày đầy đủ rõ rệt trước mắt, họ bực tức vì họ đã bị bưng bít, do đã bị từ chối trong việc tìm hiểu và đã chỉ được đọc một phần của cả vấn đề.

Hiển nhiên, sau này các sử gia sẽ đào sâu mở rộng hơn. Có lẽ họ sẽ đối xử rất tử tế với tôi, có lẽ còn hơn cả sự xứng đáng của tôi. Dầu vậy, chúng ta hãy còn biết bao nhiêu chuyện trời đất mà những chuyện ấy vẫn chưa từng được kể hết ra! (Hết trích)

Năm 1990 giáo sư Larry Engelmann, tại San Jose ra mắt tác phẩm Tear before the Rain (Nước Mắt Trước Cơn Mưa). Ông đã bỏ ra 3 năm đi khắp thế giới và Việt Nam phỏng vấn và soạn thảo một tác phẩm về những ngày cuối cùng của VNCH. Chúng tôi đã nói chuyện với tác giả và được chấp thuận dịch và xuất bản bằng Việt Ngữ. Cơ quan IRCC đã nhờ sự cộng tác của ông Nguyễn Bá Trạc dịch thuật.

Ngày cuối cùng của Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn

“Khi chiếc trực thăng CH-46 đáp xuống chiến hạm USS Blueridge, nhiệm vụ bảo vệ xem như hoàn tất”, Colin Broussard, cận vệ của đại sứ Mỹ Graham Martin tại Sài Gòn, nhớ lại thời điểm cách đây 29 năm. “Tôi vứt khẩu tiểu liên Magnum, tháo luôn khẩu colt 45 và ném lên boong”.

Tôi và Jim Daisy đã trải qua 48 giờ không ngủ, không ăn uống và cả không hút thuốc. 2 đứa tìm thấy khoảng trống dọc hành lang, đặt lưng xuống và đánh một giấc thật đầy. Câu chuyện Việt Nam của tôi chấm dứt kể từ hôm nay, 30/4/1975.

Ngày 29/4/1975, Sài Gòn bị tấn công. Tôi nghe có đến 16 sư đoàn quân VC đang bao vây Sài Gòn, mở những đợt tấn công dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất và Bộ tư lệnh hành quân. Trung sĩ Jim Daisy và tôi, trung sĩ Colin Broussard, được lệnh của PPSU – lực lượng an ninh bảo vệ yếu nhân – phải bảo vệ Đại sứ Graham Martin cho đến khi hoàn tất chiến dịch di tản. Jim giữ nhiệm vụ lái xe, còn tôi hộ tống.

Vòng vây của quân giải phóng càng lúc càng siết chặt. Nỗi sợ hãi ở Sài Gòn lên đến tột độ. Nhiệm vụ của Jim hôm đó là lái xe cho đại sứ và hợp tác với các nhân viên PPSU còn lại về tất cả những gì liên quan đến việc di tản. Tôi giữ nhiệm vụ hộ tống, bảo vệ đại sứ. 4 đội PPSU khác lúc này đang toả ra khắp thành phố, đón gia đình các sĩ quan cảnh sát đặc biệt của chính quyền Sài Gòn đi di tản.

Sáng nay, thi thoảng, đạn rocket của VC pháo vào Sài Gòn, như rocket của người Đức bắn sang Anh vậy. Họ dang “quây” phi trường Tân Sơn Nhất bằng các loạt pháo 122 ly. Bên ngoài toà đại sứ, khoảng 5.000 người vây kín các bức tường bên ngoài, tìm cách leo vào trong. Lính thủy đánh bộ trấn thủ trên bờ tường, xô đám đông trở lại dưới sự hỗ trợ của các họng súng máy được bố trí ở các góc tầng thượng. Tổng quân số lính thuỷ chúng tôi còn lại đến ngày cuối cùng là 65 người. Tất cả đều cố sức cản dòng biển người đang cố gắng vượt rào. Những người làm việc cho chế độ VNCH lúc ấy hiểu người Mỹ đang bỏ đi. Và họ bắt đầu hoảng hốt. Ngày hôm ấy, những chuyện không tưởng liên tục diễn ra cạnh bức tường toà đại sứ, kể cả chuyện một bà mẹ trẻ đã ném cả đứa con qua bức tường cao 2,4 mét với hy vọng ai đó sẽ nhặt đứa bé và đưa sang Mỹ.

Ông Graham Martin là một đại sứ chuyên nghiệp, không phải là một chính trị gia được bổ nhiệm. Ông nguyên là nghị sĩ, mất một con trai trên chiến trường Việt Nam. Lúc ấy, ông không muốn ai nghĩ đến chuyện sắp phải di tản. Tôi nhận chuyển một công điện mật cho đại sứ, đoán là của Tổng thống Ford hoặc Ngoại trưởng Henry Kissinger. 25 năm sau, tôi mới biết là mình đoán đúng. Đó là thư của Tổng thống Ford, ra lệnh mở chiến dịch di tản.

Trước ngày Sài Gòn sụp đổ 2 tháng, Tổng lãnh sự Albert Francis ở Đà Nẵng yêu cầu Martin cấp cho vài vệ sĩ hộ tống mình trong chuyến thăm Huế. Tôi và Jim được lệnh lên đường. Chúng tôi đáp chuyến bay từ Sài Gòn đi Đà Nẵng, sau đó lên trực thăng ra Huế, đáp xuống phía đối diện sông Hương. Albert Francis bàn việc với ông tỉnh trưởng trong lúc tiếng súng giao tranh vang lên rất rõ, chỉ cách đó khoảng 10 km. Đến chiều, chúng tôi lên trực thăng rời Huế. Hôm sau, Huế thất thủ. Chúng tôi thả Albert xuống Đà Nẵng và bay trở lại Sài Gòn. 2 tháng sau, Đà Nẵng thất thủ, kế đến là Sài Gòn.

Lúc này, quân VC tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhất. Tiếng pháo nổ rung chuyển khắp nơi. Tôi không rõ quân đội VNCH có đủ sức bảo vệ thủ đô không. Từ nóc toà đại sứ, tôi thấy một chiếc C-130 đang cố gắng cất cánh, nhưng cánh bị trúng đạn và đổ nhào xuống đường băng. Đại sứ Martin muốn biết rõ tình hình phi trường, xem phi cơ có lên xuống được hay không nên ông quyết định đích thân đi thị sát. Ông lệnh cho tôi chuẩn bị. Tôi cố giải thích rằng rất nguy hiểm nếu như ông muốn đi. Tuy nhiên, ông vẫn ra lệnh phải chuẩn bị sẵn sàng nên tôi không hỏi nữa. Lúc rời phòng đại sứ, tôi nghe viên chỉ huy phó phản ứng quyết định ra phi trường của đại sứ.

Tôi gọi Jim qua bộ đàm, yêu cầu cả toán PPSU chuẩn bị. Sau đó, tôi nói chuyện với thiếu tá Kean – sĩ quan chỉ huy lực lượng lính thủy, báo cáo chuyện đại sứ muốn thị sát phi trường. Kean lệnh cho 2 trung sĩ Segura và McDonald lên chiếc Jeep Advanced đến phi trường. Đây là loại “Jeep thông minh”, có thể cho chúng tôi biết đi đường nào thì tốt nhất. Lúc này, tôi nghe nói VC đã có mặt trên đường phố Sài Gòn, trong đó có nhiều biệt đội ám sát. Cả bọn chúng tôi leo lên xe, đóng cửa kín mít và lên đạn. Daisy lái xe, trung sĩ Paul Gozgit ngồi cạnh đại sứ, tôi và trung sĩ Maloney đi chiếc xe thứ hai cùng 2 sĩ quan cảnh sát đặc biệt. Tôi biết đây là chuyến đi rất mạo hiểm, không biết có biệt đội ám sát nào trong đám đông ấy không. Tôi tập trung, lên đạn, tay thò vào cò súng sẵn sàng chờ biến cố. Tôi có cảm giác có thể bị tấn công xảy ra bất cứ lúc nào. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được phi trường. Những cột khói đen nghi ngút bốc lên từ những chiếc máy bay trúng đạn, máy bay nào còn nguyên vẹn thì cũng không thể cất cánh.

Đến cổng phi trường, đoàn xe bị chặn lại. Chúng tôi bảo vệ vây quanh cửa xe đại sứ trong khi McDonald thuyết phục binh sĩ gác cổng cho chúng tôi vào trong. Cả bọn lại lên xe, tiến vào. Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị quân VNCH chặn lại. Nhìn những cột khói, những đám cháy lớn khắp nơi ở phi trường, đại sứ hiểu, không còn hy vọng tiến hành di tản bằng chuyên cơ. Ông lệnh chúng tôi quay trở lại toà đại sứ, phát lệnh di tản bằng trực thăng. Đây là điểm khởi đầu của chiến dịch “Operation Frequent Winds”. Bản White Christmas cất lên trên hệ thống radio – ám hiệu báo cho người Mỹ biết cuộc di tản bắt đầu. 11 giờ trưa hôm ấy, đại sứ yêu cầu tôi đưa ông về nhà. Nhân viên cả toà đại sứ hoảng hồn, năn nỉ ông suy nghĩ lại và đừng đi vì đạn pháo, rocket đã nổ lác đác trong thành phố. Nhưng ông vẫn phẩy tay, vì thế, tôi tiếp tục chuẩn bị.

Nỗi sợ lớn nhất của chúng tôi khi ấy là VC mới chính là người đang thực sự điều hành thành phố. Trước đó vài ngày, VC lấy chiến đấu cơ A 37 từ Đà Nẵng và ném bom Dinh Độc Lập – cách toà đại sứ không xa. Tôi cố gắng lái chiếc Chevy 454 chống đạn vượt qua cổng chính. Nhưng vừa mở ra, đám đông đã tràn vào khiến thiếu tá Kean và binh sĩ phải vất vả lắm mới đóng cổng lại được. Đành bỏ xe, đại sứ yêu cầu tôi và Jim tháp tùng ông về nhà bằng cách… đi bộ, cách toà đại sứ khoảng 2 dãy nhà. 2 chúng tôi nhìn nhau và nghĩ – có lẽ đây là ngày tận số. Chúng tôi xách tiểu liên, lựu đạn và vượt lối đi bí mật thông qua toà đại sứ Pháp (kế bên) để ra ngoài phố. Vừa vào đến nhà, ngay bên kia đường xảy ra một cuộc đọ súng. Chúng tôi vào nhà, đốt sạch tài liệu. Jim dùng lựu đạn tiêu hủy toàn bộ hệ thống radio. Tôi điện cho chỉ huy, xin được đón luôn 2 lính thuỷ đang gác nhà đại sứ. Cuối cùng, sau 5 phút, tôi đề máy được chiếc Pontiac và gọi Jim đưa đại sứ ra ngoài. Đi thôi! Jim ấn đại sứ ngồi vào băng sau và ngồi chắn bên cạnh. 2 lính thủy cầm M16 chĩa ra 2 bên cửa. Tôi đề máy chiếc xe chống đạn, tông thẳng vào chiếc cổng cao 2,5 mét lao ra ngoài và tăng tốc đến Toà đại sứ Pháp. Cả bọn lại luồn về toà đại sứ. Martin bảo rằng ông nợ chúng tôi một chai rượu mạnh. Tôi thông báo với sĩ quan chỉ huy là nhiệm vụ đã hoàn tất. Đám lính thuỷ bắt đầu hạ cây cối trong toà nhà, cắt điện thoại liên lạc, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc di tản bằng trực thăng.

Chiếc trực thăng CH-53 (chở được 50 người) dầu tiên hạ cánh xuống tầng thượng. Thiếu tá Kean và Trung tá Valdez điều động việc đưa người lên trực thăng, sau đó trực chỉ ra hạm đội 7. Cuộc di tản kéo dài đến 4 giờ sáng 30/4 thì kết thúc, trong đó có Đại sứ Martin, Jim và tôi. Toán lính thủy còn lại gồm 11 người được bốc đi lúc 5 giờ, đúng lúc tiếng xích xe tăng quân VC bắt đầu lăn vào đường phố Sài Gòn. Trên tàu, những sĩ quan VNCH lỉnh kỉnh những túi xách, vali. Tât cả đều phải qua kiểm tra của lực lượng an ninh chiến hạm… Chiến hạm USS Blueridge đến vịnh Subic (Philippines) vào ngày 4/5, mỗi đứa chúng tôi được phát 100 USD. Đến lúc ấy, tôi mới bắt đầu nghĩ đến chuyện mua vài bộ quần áo mới, tắm rửa, cạo râu…

(theo Fall 0f Saigon)

 

Advertisements

3 thoughts on “NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA

  1. câu chuyện được kể nghe như 1 phóng sự,hồi ký của ký giả săn tin xả hội,hình sự pha chút hành động,giựt gân,,,ai rảnh thì đọc.Đâu nghĩ rằng đó là những giờ phút đau thương,bi tráng nhất của VNCH,1thể chế toàn vẹn được quốc tế công nhận,1 quốc gia với đầy đủ tam quyền và 1 quân đội có hạng tại châu Á….Khốn nạn thay người kể với giọng văn nhẹ nhàng,rành rọt vô tư này lại nằm trong bộ phận chóp bu điều hành cuộc chiến,nhân chứng sống của tấn tuồng phản trắc,,Đi đêm.bán đứng đồng minh VNCH để tìm con đường rút lui danh dự,bắt tay với thầy của kẻ địch là TC vỉ đại hòng kiếm món lợi lớn sau này tốt hơn là giử mãi cái “tiền đồn”hết tác dụng so với ISSRAEL….Không biết viên đại sứ,hay các tay tình báo HOA KỲ có thấu hiểu nỗi bi thương,uất hận của miền nam VN không hay cho là mấy mươi năm sau vết nhơ này thời gian cũng gột rửa !!!Con cháu nước MỸ nghĩ sao về bài học lịch sử này
    Các chính khách xôi thịt Kisinger,M.Govern,E.Kennedy,Nixon,H.Humphrey,đám ký giả thiên tả ác tâm như Malcom Browne.David Halberstam …chắc già nua rút lui hay đã ra người thiên cổ như vị tướng kiêm tổng thống bất tài NG.văn THIỆU,tất cả đều vô trách nhiệm chối bỏ các tội lỗi sai lầm nhục nhả….xin để công lý sẽ soi sáng và phục hồi danh dự cho VNCH khi nước MỸ có những tài năng và lương tâm họ khơi lại lịch sử

  2. những ngày 30/4 ấy chẳng có giọt nước mắt nào của người MỶ nhỏ xuống ,có chăng là sự hoảng hốt,thất vọng,ngạc nhiên vì sự việc xảy ra quá nhanh chóng kèm hổn loạn trái với xếp đặt,,58000 thanh niên HK bỏ mạng uổng phí khi đám phản chiến,bọn báo chí thân cộng và 1 quốc hội cầu hòa trục lợi bị khống chế bởi bọn HK gốc ISSRAEL đã có chủ trương bỏ rơi thậm chí bán đứng VNCH cho CS từ lâu 1971,,,200 năm lập quốc chưa đủ gây lòng tự trọng,danh dự hay sĩ diện cho người dân Hợp chủng quốc MỸ mặc dù họ có những anh hùng,nhân tài nổi danh như WHASINHTON,A.LINCOLN,ROUSSEVELL,.. cho nên mới xảy ra sự phản bội vô tiền khoáng hậu đối với các đòng minh nhỏ bé ở vùng Đông nam á vào cuối thế kỷ 20
    Nếu HK gồm đa phần những người có lương tâm,trách nhiệm như đ/tướng WESTMORELAN.WEIYAND linh mục DE JAEGHER… hay tổng thống B.JONHSON,R.REAGAN thì làm sao có máu và nước mắt của tháng tư 75,,,,thế giới củng vì ảnh hưởng của đồng đô la HK đành quên lảng cuộc chiến Đông dương,,họa chăng xuất hiện nhân tài đủ lương tâm đạo đức có thể khơi lại lịch sử hầu gột rửa vết nhơ !!??

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s