TÀI LIỆU CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

1CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CCRĐ) ở miền Bắc từ năm 1946-1957, giết chết trên 170 ngàn người vô tội, họ bị kết án địa chủ bóc lột… tưởng như đã đi vào lãng quên… nhưng từ ngày 8/9/2014 Viện bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia CSVN Hà Nội tổ chức triển lãm về chiến dịch CCRĐ. Dư luận ồn ào lên án đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) tuyên truyền không đúng sự thật, còn gợi lại vết thương đau của người dân vô tội miền Bắc. Sự giả dối không thể giấu dưới ánh nắng mặt trời „there are nothing deceit under the sun“. Các cơ quan truyền thông hải ngoại phỏng vấn các nhân chứng còn sống, từng trải qua những thương đau, khốn khổ nhất ở thời kỳ CCRĐ và đăng lại tài liệu có đầy đủ hình ảnh đấu tố, tử hình các nạn nhân bị kết án là điạ chủ.

Trước 1975 ở miền Nam chương trình giáo dục của VIỆT NAM CỘNG HÒA không nhắc đến vấn đề CCRĐ ở ngoài Bắc, Người dân miền Nam chỉ biết về CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA của VNCH qua hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa giúp cho đời sống của những người tá điền có ruộng, có nhà đời sống ấm no trong tự do, hạnh phúc.

Để có cái nhìn chân thật về lịch sử của hai miền Nam-Bắc hơn 4 thập niên trước. Hoa munich trích lại các tài liệu, dẫn chứng cho các thế hệ trẻ Việt Nam tham khảo, có thể hiểu được sự thật của hai chế độ CỘNG SẢN và QUỐC GIA.

Hội luận về CCRĐ

http://bbc.in/1DzbQoB

Trần Mạnh Hảo trả lời về CCRĐ

http://bit.ly/1qZ1A4K

Phỏng vấn nhân chứng CCRĐ

http://bit.ly/1vob1sY

Phỏng vấn cựu đại tá Quân Đội Nhân Dân BÙI TÍN

http://www.youtube.com/watch?v=7LCUVhSPQaQ

Phim Tài Liệu

http://vietnamfilmclub.org/?page_id=12

VÀI MẪU CHUYỆN GIA ĐÌNh và QUÊ HƯƠNGTRONG CẢI CÁCH RUỌNG ĐẤT

Tin tức “đấu tố” từ Thái Nguyên lan về

14091600– Năm 1953 tôi học cấp 3 ở tỉnh Phú Thọ, toàn cấp chỉ có khoảng 150-200 học sinh, trong đó, số “tản cư” (gốc Hà Nội, Vĩnh Yên) nhiều hơn số tại chỗ. Vùng kháng chiến (từ Hà Tĩnh trở ra) vẻn vẹn chỉ có 6 trường cấp 3, do vậy học sinh rất được nể trọng. Chúng tôi đã lớn tuổi (18-22), vì quy định 7 tuổi mới đi học, qua bậc tiểu học thời thuộc Pháp đã mất 6 năm; sau đó, do chiến tranh, việc học của mỗi chúng tôi có thể gián đoạn vài ba năm. Các thầy đều được đào tạo bài bản từ trước 1945, khi giảng bài còn chêm vào những câu tiếng Pháp, nhưng chúng tôi vẫn hiểu. Tóm lại, chúng tôi đã ở tuổi trưởng thành, đủ hiểu biết để quan tâm tới xã hội.

Bà Nguyễn Thị Năm 

– Giữa năm đó, tin đấu tố và xử bắn “mụ địa chủ gian ác, phản động” Thị Năm từ Thái Nguyên lan về Phú Thọ. Nghe nói, con “quỷ cái” này ác “trần đời có một”, nhưng ác mức nào thì toàn tin đồn. Phải tới 2 tháng sau, mới có bài báo của CB liệt kê đủ tội của Thị Năm. Cái tên bài báo đến nay tôi chưa quên: Địa chủ ác ghê. Ngay hồi đó, chúng tôi đã biết CB chính là cụ Hồ. Chúng tôi thấy “tử hình vẫn còn quá nhẹ” – dù đó là đàn bà. Câu nói truyền khẩu được mọi người thán phục, nhập tâm, vì do đích thân cố vấn Trung Quốc dạy: Hổ đực, hổ cái đều ăn thịt người. Thời nay, tôi tin chắc không ai tưởng tượng nổi uy tín và quyền lực của cố vấn Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nhận ra: Cái tên bài báo hơi “lạ”. Lạ ở cái chữ “ghê”. Nó chẳng hề thể hiện sự căm ghét, phẫn nộ gì sất… mà cứ như bọn tôi đùa nhau: Em ghét anh ghê, tao tức nó ghê; hoặc sướng ghê, tài ghê, buồn ghê… Rất khó dịch “ghê” sang ngôn ngữ Tây, Tàu.

Chính sách trên giấy trắng, mực đen

Sau đợt đấu tố 6 tháng, tức là tới đầu năm 1954, chính sách CCRĐ mới được công bố trên tờ báo, mà chúng tôi truyền tay nhau tới nhàu nát. Để tuyên truyền cho “chất trí tuệ” trong chính sách, cán bộ tỉnh ủy khẳng định rằng các đồng chí cố vấn Trung Quốc đã góp ý sát sao, sau đó VN còn gửi cho các đảng đàn anh góp ý lần cuối.

140918095044_hochiminh_304x171_vietnamarchivesTôi và một số bạn tìm hiểu “từng chữ, từng ý” ghi trong chính sách, vì gia đình mình có ruộng. Được chúng tôi đặc biệt quan tâm là các tiêu chuẩn để quy một người là địa chủ – do một cán bộ tỉnh ủy nói cụ thể. Vài ví dụ. Được coi là địa chủ thường, nếu: 1- diện tích ruộng/đầu người chỉ gấp 4-6 lần mức bình quân chung; 2- phần lớn ruộng phát canh, thu tô; và 3- đó là nguồn sống chính. Chính sách đối xử là: bị trưng mua hoặc trưng thu một phần ruộng đất; phần còn lại phải tự cày cấy. Nếu bản thân địa chủ hoặc con cái tham gia kháng chiến, hoạt động cách mạng… được gọi là yêu nước. Nếu hống hách, đánh nông dân, bị coi là cường hào. Nếu gây án mạng, bị gọi là gian ác. Nếu cộng tác với giặc Pháp, bị coi là phản động… Thị Năm đủ các tiêu chuẩn để bị quy kết là đại địa chủ (có đồn điền) gian ác, phản động… Chúng tôi thấy, tỉnh Phú Thọ chỉ có vài cái đồn điền lớn (mỗi cái chỉ vài trăm hecta), nhưng chẳng có ông chủ nào gian ác, phản động. Ông Đào Đình Quang, chủ đồn điền Phú Hộ là phó chủ tịch Mặt Trận Liên Việt tỉnh; có con là sinh viên quân y. Ông sẵn sàng đón nhận khi biết trường Y từ Tuyên Quang muốn về đóng ở đồn điền mình. Một vị khác là Trịnh Xuân Nghĩa (đồn điền Phú Lộc) đã thu dung “dân tứ tán”, mở trường dạy con em họ. Thời ấy, cả huyện Phù Ninh chỉ có hai trường tiểu học.

Khi tôi về làng, nhiều người thấy tôi nói chính sách vanh vách, liền tới hỏi han. Tôi đưa “giấy trắng mực đen” ra đối chiếu… khiến ai cũng yên tâm. Những người nhiều ruộng sẵn sàng “hiến” hết, chỉ giữ lại mức bình quân chung. Hầu như chẳng có ai đạt mức “cường hào”, càng chẳng có ai “gian ác”. Tất cả đạt tiêu chuẩn “yêu nước”.

Chính sách một đường, thực hiện một nẻo

Tôi tìm hiểu kỹ chính sách CCRĐ vì liên quan tới mẹ tôi. Mẹ tôi suốt đời buôn bán nhỏ, nhưng từ năm 1945 phải quản lý số ruộng đất do mẹ chồng (mất đi) để lại. Đây là ruộng của tổ tiên, dành để thờ cúng (giao cho con trưởng) – nghĩa là không được bán. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, mẹ tôi đưa các con theo cơ quan cha tôi, sống bằng lương (của cha), thu nhập tiểu thương (của mẹ) và tự nuôi gà, trồng rau (của chúng tôi). Tôi rất yên tâm: Mẹ tôi còn quá xa mới đủ tiêu chuẩn địa chủ “thường”.

Nhưng chính sách một đường, thực hiện một nẻo. Những người ở quê từng yên tâm sau khi nghe tôi giải thích về chính sách, chỉ sau ít lâu đều nhất loạt bị coi là địa chủ, hầu hết là “cường hào”, đa số là “gian ác, phản động”. Đủ tiêu chuẩn để bị tịch thu gia sản và đi tù. Không ai được giải trình bất cứ điều gì với “đội cải cách”, mà bị trói, bị lôi ra trường đấu. Nông dân “tố” họ tội gì, họ bị coi là có tội đó, kể cả hai người bị tử hình ngay sau khi bị đấu tố. Họ vừa quỳ, vừa lí nhí biện bạch gì đó, nhưng lời họ bị át đi vì tiếng hô “long trời lở đất” của hàng trăm (hoặc ngàn) người được “đội cải cách” tụ tập thành bầy đàn. Tất thảy, đúng như dự đoán của cha tôi. Chả là, cha tôi may mắn có mặt ở cuộc đấu tố Thị Năm trong đợt ông được cử đi công tác Thái Nguyên. Tới nơi, lẽ ra ông làm nhiệm vụ giáo dục, nhưng lại bị “huy động” giúp việc Ủy Ban CCRĐ. Đầu tiên là được tháp tùng các vị trong ủy ban này khi họ tới quan sát thực tiễn buổi đấu tố.

Con ơi! Cụ Hồ cũng không cứu được nhà ta đâu. Cha tôi nói, tôi có thể bị đuổi học, vì mẹ tôi sẽ bị quy là địa chủ, không thể thoát được. Cần can đảm chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.

d1Tôi liền đưa “giấy trắng mực đen” ra, nói là không thể có chuyện đó. Mặt khác, cha có mọi điều kiện gửi đơn lên tận ông Hoàng Quốc Việt và UB CCRĐ trình bày sự thật. Sợ gì? Cha nói: Sợ, là sợ cái dòng chữ “phóng tay phát động quần chúng” mà cố vấn TQ đòi ta đưa vào văn bản. Đã được “phóng tay” thì đám âm binh sẽ lộng hành, mà ngay ông phù thủy (tạo ra chúng) cũng không thể điều khiển chúng được nữa. Sau này, khi dự 3 cuộc đấu tố, tôi mới thấy thế nào là âm binh được phù thủy thả rông.

Tôi bảo cha: Nghe nói cụ Hồ có dự đấu tố? Hay là mình thử viết đơn gửi cụ Hồ?

Cha bảo, cha cũng nghe nói cụ Hồ đích thân chứng kiến tận mắt cuộc đấu tố (cha tôi không dùng “dự”; mà dùng “chứng kiến”; và theo cha, việc các vị lãnh đạo phải quan sát, rút kinh nghiệm cuộc đấu tố là việc đương nhiên). Nếu chứng kiến, hẳn là ông cụ thấy cách kết tội rất không ổn. Nhưng nay, chính cụ cũng phải tự giữ thân rất thận trọng.

Khi còn ở Thái Nguyên, cha tôi biết UB CCRĐ đã đưa đủ tài liệu cho cụ, đề nghị cụ viết bài lên án Nguyễn Thị Năm, cụ chần chừ khá lâu. Cha bảo: Con đã học cấp 3, hãy đọc kỹ văn phong bài Địa chủ ác ghê, để thấy sự miễn cưỡng. Miễn cưỡng ngay từ cái đầu bài. Biết rằng bài sẽ được dịch sang Trung văn, cái chữ “ác ghê” tiếng Việt (rất đùa) khi sang tiếng Trung lại thành “địa chủ cực ác” – rất nghiêm chỉnh. Cuối bài, còn có 2 câu đối, hẳn là không phải để cho bần cố nông thưởng thức, mà để người Tàu khen.

Đố ai tìm được bài nào của CB có văn phong tương tự. Cuối cùng, đúng như cha tôi kết luận: Con ơi! Cụ Hồ cũng không cứu được nhà ta đâu.

Chính tôi được biết

– Tôi không nói về cuộc đấu tố đầu tiên tôi được dự (ông Nguyễn Hán Công; tử hình); trong đó bọn học sinh cấp 3 chúng tôi có nhiệm vụ duy nhất là gào thật to: Đả đảo địa chủ ngoan cố. Tôi cũng không nói về cuộc đấu cuối cùng ở ngoại thành Hà Nội, tôi có mặt trong đoàn sinh viên Y. Cũng tử hình.

– Mẹ tôi được sửa sai sớm, nhưng tài sản mất hết, từ “chổi cùn” đến “rế rách”. Nay, tôi xin chọn để nói về 2 địa chủ liên quan tới gia đình tôi: một tử hình, một bị bỏ đói tới chết.

1) Ông Nguyễn Viết Đạo, 43 tuổi, trong “hội đồng tuế” với cha tôi. Ông là chủ tịch xã, đảng viên, từng nuôi bộ đội, cán bộ và ủng hộ kháng chiến “không tiếc gì tài sản”; con trai ông là bộ đội. Khi “đội cải cách” về xã, lập tức chính quyền thành vô hiệu. Đội bắt ông, trói, giam… ông vẫn bảo vợ con: Đây là sự nhầm lẫn, vì ông đã đọc chính sách rất kỹ. Khi bị đấu tố, ông vẫn giữ được bình tĩnh, chững chạc, khiến “đội” rất tức tối. Thời điểm này, do cố vấn TQ phổ biến kinh nghiệm, nên đã có lệnh “chỉ được bắn địa chủ từ sau lưng” (để họ khỏi hô: Hồ chủ tịch muôn năm; đảng Lao Động VN muôn năm”). Ông bị bắn đúng như vậy ngay sau khi bị giải ra khỏi trường đấu. Ông chỉ kịp quay lại, trừng mắt nhìn tên đao phủ, rồi đổ vật xuống. Tên này, sau hóa điên. Một địa chủ khác (cùng xã) cũng bị bắn.

2) Cụ Nguyễn Hoán, 80 tuổi, lấy chị ruột của ông nội tôi. Cụ giỏi chữ Hán, biết quốc ngữ; trước 1945 là Hội trưởng Hội Tư Văn của xã. Cụ có nhiều thơ, câu đối, văn mừng cách mạng tháng 8, ca ngợi cụ Hồ. Năm 1946 khi nghe tin cụ Hồ làm chủ tịch, cụ Hải Thần làm phó chủ tịch nước, cụ Hoán có câu đối ca ngợi sự đoàn kết, hợp tác:

Hồ – Hải giao thông: Thiên hạ trị

Minh – Thần hợp tác: Quốc dân an

Ngay từ khi đáng CS bắt đầu đề cao đấu tranh giai cấp, cụ tự thấy bất an, đã đưa ra 4 chữ triết lý cho riêng mình: Nhẫn Nại Xử Thế. Cụ vẫn không yên thân. Con cháu bị quy là địa chủ (sau được sửa sai) nhưng khi đó họ không dám chăm sóc khi cụ đói khát, hàng xóm cũng không dám gần… Rốt cuộc, cụ nằm chết trên giường tới khi “bốc mùi” mới được “đội” cho phép đem đi…. Trích bài của ông Nguyễn Ngọc Lanh

CẢI CÁCH ĐIỀN ĐIẠ CỦA VNCH RA SAO?

Ông Ngô Đình Diệm đã tiến hành cải cách nông thôn khi còn làm Thủ tướng Trong khi miền Bắc phóng tay Cải cách Ruộng đất tiêu diệt tầng lớp địa chủ thì chính quyền miền Nam liên tục tiến hành tư hữu hoá đất đai, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đời sống nông dân.

Qua việc thu mua đất từ các điền chủ rồi bán lại hay phát cho nông dân, trước năm 1975 mọi gia đình nông dân miền Nam đều đã thật sự làm chủ mảnh đất tư hữu của mình. Chương trình Người Cày Có Ruộng (NCCR) là một cuộc cách mạng xã hội, thay đổi tận gốc rễ nông thôn miền Nam.

140924123826_ngo_dinh_diem_640x360__nocreditChương trình được thực hiện trong ôn hòa, dựa trên tinh thần thượng tôn luật pháp, hoà giải và hòa hợp xã hội. Một mặt tôn trọng quyền lợi của chủ đất, khôi phục và bảo vệ quyền tư hữu đất đai. Mặt khác giúp tòan thể nông dân có ruộng cày. Thành công một phần nhờ vào sự đóng góp của Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh.

Nhưng chính yếu vẫn là từ hai vị lãnh đạo miền Nam: Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện chương trình ngay khi về nước và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết tâm nối tiếp thực hiện chương trình. Ông Thiệu hiểu rõ Luật NCCR không phải chỉ là thành quả của nền dân chủ nghị viện non trẻ, mà còn là một chính sách mang lại chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

Những tài liệu phổ biến gần đây cho thấy, sau Mậu Thân 1968 số thanh niên miền Nam theo cộng sản càng ngày càng ít đi, không đủ bổ xung số cán binh cộng sản ra hồi chánh, lên đến trên 200.000 người. Chính vì lý do này cộng sản Bắc Việt đã phải mang quân chính quy từ miền Bắc vượt biên giới xâm lấn miền Nam.

Tình hình ruộng đất miền Nam

Khi quân Pháp xâm chiếm nước ta, miền Nam vẫn còn nhiều vùng chưa được khẩn hoang, nhiều vùng vì chiến tranh nông dân đã phải bỏ ruộng vườn. Lợi dụng cơ hội một số người Pháp và người theo Pháp đã chiếm, rồi thông đồng với nhà cầm quyền Pháp hợp thức hóa quyền sở hữu đất đai họ chiếm được. Trước 1945, theo ước tính trong số 6.530 đại điền chủ (trên 50 ha đất) có 6.316 là ở miền Nam.

Miền Nam không xảy ra Cải cách Ruộng đất, không có nghĩa là cộng sản miền Nam nhân đạo hơn cộng sản miền Bắc. Từ cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940, cộng sản đã thẳng tay tàn sát tiêu diệt giai cấp điền chủ. Các sử liệu cộng sản tóm tắc việc này như sau: “…lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu đất thóc gạo của địa chủ chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân.”

Khi Việt Minh cướp được chính quyền năm 1945, hầu hết các đại điền chủ đều bỏ ruộng vườn về sống tại Sài Gòn hoặc các thành phố lớn. Việt Minh tịch thu ruộng đất rồi chia cho tá điền canh tác và lấy thuế. Ở các vùng thuộc Hòa Hảo và Cao Đài, nông dân cũng tự thực hiện việc chia lại ruộng đất hoặc chấm dứt nộp địa tô cho ruộng vườn mà họ đang trồng cấy.

Sắc lệnh Cải cách Điền Địa của Cựu Hoàng Bảo Đại vì chiến tranh và thiếu thực quyền nên không mang lại kết quả cụ thể. Năm 1949, khi người Pháp bắt đầu trao trả độc lập Cựu Hoàng Bảo Đại cho ban hành sắc lệnh về Cải cách Điền Địa (CCĐĐ), nhưng vì chiến tranh và thiếu thực quyền nên sắc lệnh này không mang lại kết quả cụ thể nào. Sau hiệp định đình chiến Genève chia đôi đất nước, miền Nam đã trải qua hai cuộc CCĐĐ và một số chính sách về ruộng đất.

Cải cách điền địa lần một

Bước đầu của chính sách cải cách điền địa, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho ban hành Dụ số 2 và Dụ số 7 nhằm thiết thiết lập quy chế tá canh. Địa tô được tính không quá 25% vụ lúa thu hoạch chánh. Thời gian cho thuê được quy định là 5 năm. Tá điền và điền chủ có thể xin hủy bỏ họăc tái ký hợp đồng.

Trường hợp ruộng đất bị bỏ hoang, ước lượng 500 ngàn ha, thì thuộc quyền sở hữu quốc gia. Chính quyền thu và cấp phát không cho tá điền. Các tá điền trước đây theo Việt Minh được tiếp tục canh tác trên mảnh ruộng do Việt Minh cấp phát trong thời chiến. Địa tô và quyền tá canh nay được chính phủ nhìn nhận và bảo đảm.

Ngày 22-10-1956, Tổng thống Ngô Ðình Diệm cho ban hành Dụ số 57, tiến hành Chính sách CCĐĐ. Mỗi điền chủ chỉ được quyền giữ tối đa 100 ha ruộng, trong số nầy 30 ha được phép trực canh, còn 70 ha phải cho tá điền thuê theo đúng quy chế tá canh.

Ðiền chủ bị truất hữu được chính phủ bồi thuờng thiệt hại: 10% trị giá ruộng đất bị truất hữu đuợc trả ngay bằng tiền mặt, phần còn lại được trả bằng trái phiếu trong thời hạn 12 năm, với lãi suất là 3% mỗi năm.

Ruộng bị truất hữu được bán lại cho các tá điền, mỗi gia đình được quyền mua lại tối đa 5 ha và phải trả cho nhà nước trong vòng 12 năm. Giá tiền bán bằng với giá Chính phủ trả cho chủ điền. Như vậy chủ yếu Chính phủ chỉ làm trung gian trong việc chuyển nhượng quyền tư hữu đất đai.

Chiếu theo Dụ số 57, chính phủ truất hữu 430.319 ha đất từ 1.085 đại điền chủ. Một số ruộng truất hữu cũng được bán cho các cựu chiến binh, những nông dân trốn Việt Minh nay hồi hương và đồng bào miền Bắc di cư vào Nam

Ngày 11-9-1958, Chính phủ còn ký kết Hiệp định Việt Pháp, truất hữu thêm 220.813 ha ruộng đất của Pháp kiều. Như vậy tổng số diện tích đất đai được truất hữu là 651.182 ha.

Số ruộng được truất hữu được giao cho 123.198 tá điền. Ngoài ra còn có 2.857 tá điền khác đã trực tiếp mua lại đất của các đại điền chủ.

Một số ruộng truất hữu cũng được bán cho các cựu chiến binh, những nông dân trốn Việt Minh nay hồi hương và đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.

Giới điền chủ đều ủng hộ chính sách CCĐĐ. Trong thời chiến ruộng đất của họ bị xem như đã mất. Nay chính phủ khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thuờng thiệt hại nếu bị truất hữu. Đại điền chủ vẫn còn được giữ lại 100 ha.

Các chính sách khác

Nhằm giải quyết công ăn việc làm cho đồng bào miền Bắc di cư, giải quyết nạn thất nghiệp hậu chiến và đồng thời cũng để cô lập họat động du kích cộng sản, Tổng thống Ngô đình Diệm còn thực hiện chính sách xây dựng các khu dinh điền, khu trù mật và các ấp chiến lược.

Đến năm 1961, chính phủ đã thành lập 169 trung tâm tái định cư, với 25 Khu Trù Mật tập trung trên đồng bằng sông Cửu Long, tiếp nhận 50 ngàn gia đình, với 250 ngàn người tái định cư. Diện tích đất trồng được khai hoang hay được tái canh đạt 109.379 ha.

Tháng 4-1957, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho nông dân vay tiền một cách dễ dàng, nhẹ lãi và không đòi hỏi thế chấp hay người bảo lãnh.

Đến năm 1963, Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã cho vay số tiền lên đến 4 tỷ 600 triệu đồng, 85% số tiền để giúp các tiểu điền chủ hay tá điền. Nhưng vì không có thế chấp và vì chiến tranh nên rất ít nông dân chịu trả nợ.

Chính phủ cũng đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẫn, giúp đỡ kỹ thuật cho nông dân. Nhờ đó năng suất lúa đã tăng từ 1,4 tấn/ha trong những năm 1950-1954, lên đến 2 tấn/ha năm 1960-1963.

Thành quả và giới hạn

Nhờ các chính sách nói trên, việc sản xuất, xuất cảng và lợi tức nông nghiệp đã không ngừng gia tăng. Từ năm 1955 đến 1962, mức sản xuất gạo đã tăng từ 2,8 triệu tấn đến 5 triệu tấn, còn xuất cảng tăng từ 70 ngàn tấn lên đến 323 ngàn tấn.

Các điền chủ có ruộng đất truất hữu nhận các các khỏan bồi thường lớn, họ đầu tư xây dựng các nhà máy, các phân xưởng tại nông thôn, hay trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. Nhờ đó không chỉ riêng nông thôn, mà tòan miền Nam sống trong cảnh thái bình.

Giới hạn của chính sách CCĐĐ là 74% tổng số diện tích ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thuộc 65.757 trung điền chủ (từ 5 đến 50 ha) và 6.316 đại điền chủ (trên 50 ha). Vẫn còn 795.480 gia đình nông dân chưa được làm chủ mảnh ruộng đang cày.

Khi đời sống nông dân nâng cao thì ảnh hưởng của cộng sản cũng bị giảm sút. Để tồn tại cộng sản đã tiến hành bạo lực chính trị ám sát, bắt và thủ tiêu cán bộ và chuyên viên phát triển nông thôn. Cộng sản cấm tá điền làm đơn xin mua ruộng đất truất hữu, cấm tá điền ký hợp đồng với chủ điền, buộc điền chủ hủy bỏ địa tô. Một số ngừơi đã bị giết vì không tuân theo các lệnh cấm nói trên.

Từ sau đảo chánh 1/11 năm 1963 cho đến năm 1965, các chính phủ thường xuyên thay đổi, chính sách Cải cách Điền Địa không được tiếp tục, dinh điền và khu trù mật cũng bị đình chỉ, nhiều ấp chiến lược bị phá bỏ. Cùng lúc cộng sản cho trưng thu thóc lúa của nông dân, tiến hành chiến tranh du kích, khủng bố phá họai làng xã miền Nam.

Sau đảo chánh 1/11 năm 1963 cho đến năm 1965, các vụ đảo chánh liên tục xảy ra, các chính phủ thường xuyên thay đổi. Chính sách CCĐĐ không được tiếp tục. Chính sách dinh điền và khu trù mật cũng bị đình chỉ. Nhiều ấp chiến lược bị phá bỏ.

Cộng sản lợi dụng tình thế đưa cán bộ và quân đội từ miền Bắc vào gia tăng họat động. Sẵn cơ sở hạ tầng rộng rãi chỉ sau một thời gian ngắn cộng sản đã kiểm sóat được một phần nông thôn. Ở những vùng chiếm được cộng sản chia lại ruộng đất cho nông dân.

Đến năm 1965, với sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh, an ninh tại nông thôn dần dần được vãn hồi.

Ngày 3-9-1966, Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra. Ngày 1-4-1967, Hiến Pháp mới được ban hành. Ngày 3-9-1967 cuộc tổng tuyển cử tổng thống và Quốc hội diễn ra, Tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống của nền Ðệ nhị cộng hòa ra quyết định tiếp tục áp dụng Chương Trình CCĐĐ.

Cải cách điền địa lần hai

Cuộc tổng công kích Mậu Thân cộng sản thất bại, tại nông thôn cơ sở hạ tầng cộng sản bị cô lập, an ninh được vãn hồi. Số ruộng trước đây bị bỏ hoang nay được cấp phát cho nông dân.

Đến năm 1969, có thêm 261.874 gia đình được cấp ruộng để canh tác, nâng tổng số người có ruộng lên 438,004 người.

Tháng 7-1969, Chương trình bình định và phát triển nông thôn được tiến hành. Chính phủ cho tổ chức lại cơ cấu hạ tầng nông thôn và đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẩn, giúp đỡ kỹ thuật nông nghiệp cho dân.

Ngày 25-8-1969, Tổng Thống Thiệu đưa dự luật Người Cày Có Ruộng ra quốc hội thảo luận.

Điểm chính của dự luật là giảm số ruộng đất tối đa điền chủ xuống còn 15 ha, trưng thu và cấp (không bồi hoàn) cho hơn tãm trăm ngàn nông dân chưa có ruộng cày.

Chiến tranh đã tàn phá miền Nam Việt Nam

Nhiều dân biểu nghị sĩ thuộc tầng lớp đại điền chủ không muốn bị truất hữu ruộng đất nên đã tìm cách ngăn cản thông qua dự luật. Mãi đến ngày 6-3-1970 đạo luật mới được Thượng viện thông qua. Ngày 16-3-1970 được Hạ viện thông qua.

Ngày 26-3-1970, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành luật Người Cày Có Ruộng (NCCR) và lấy ngày này làm Ngày Nông Dân.

Tại Cần Thơ vào ngày 26-3-1970, ngày ban hành Luật NCCR Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố:

“Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi.” Ông cho biết: “Tôi đã từng tham gia Việt Minh. Tôi biết rằng Việt Minh là cộng sản, họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai”.

Các ruộng đất không được trực canh bị truất hữu phát cho các tá điền đang canh tác. Mỗi tá điền được phát 3 ha ở Nam phần hay 1 ha ở Trung phần. Điền chủ trực canh được giữ lại tối đa 15 ha. Đất truất hữu được trả 20% bằng hiện kim và 80% bằng công khố phiếu với 10% lãi trong tám năm. Giá trị của đất ruộng quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc (hay lợi tức) từ khoảnh đất đó.

Trong vòng 3 năm, 1970-1973, đã có 51.704 điền chủ bị truất hữu tổng số ruộng là 770.105 mẫu. Trong thời chiến đa số ruộng đất bị ảnh hưởng, nên đa số các điền chủ bị truất hữu đều không bất mãn. Để đền đáp chính phủ cho phổ biến rộng rãi các bích chương: “Người Cày có ruộng ghi ơn tinh thần hy sinh của điền chủ.”

Nhìn chung ông Thiệu thu phục được nhân tâm của giới cựu điền chủ miền Nam.

Luật NCCR cũng quy định nông dân lãnh ruộng do cộng sản cấp cũng được nhận bằng khoán chính thức sở hữu số ruộng. Cho đến ngày 28-2-1973 Chương trình CCRĐ coi như đã hòan tất. Đã có 858.821 tá điền được hữu sản hóa 1.003.323 ha ruộng đất. Mọi nông dân miền Nam đều có ruộng cày.

gChương trình NCCR đã tạo ra một tầng lớp tiểu và trung điền chủ lên đến 1, 3 triệu người. Chỉ còn chừng 10% là có từ 5-15 ha đất, với 10% diện tích trồng trọt và họ cũng phải tự chăm sóc cho đất đai. Đại điền chủ không còn và việc tá canh coi như đã chấm dứt.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, thêm cán bộ xây dựng nông thôn, khuyến khích nghiên cứu và áp dụng phương pháp canh tác mới với kỹ thuật mới thúc đẩy gia tăng năng suất.

Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn được thành lập. Với bằng khóan đất, nông dân được vay lãi nhẹ để đầu tư sản xuất. Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp được đưa về nông thôn. Nông dân bắt đầu trang bị cơ giới để canh tác, sử dụng phân bón hóa học, cải tiến giống lúa, trồng lúa Thần Nông, tăng gia sản xuất gia súc lai giống… Cơ sở hạ tầng phát triển nông dân hăng say học hỏi và sản xuất.

Năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Năm 1974, sản lượng gạo sản xuất đã tăng đến 7,2 triệu tấn với viễn tượng xuất cảng. Nhờ đó đời sống của nông dân được cải thiện một cách rõ ràng.

Số điền chủ có ruộng bị truất hữu, cũng được chính phủ giúp đỡ sử dụng vốn kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, dịch vụ lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, dịch vụ chế biến thực phẩm nông sản, hướng đến việc xuất cảng bán thành phẩm nông nghiệp, giúp nền kỹ nghệ miền Nam khởi sắc đóng góp xây dựng nền kinh tế quốc gia.

Thể chế đi ngược lòng dân rồi cũng sẽ bị thay đổi. Bài học từ Chương trình Người Cày Có Ruộng của Việt Nam Cộng Hòa là phải trao lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.

Chính phủ tương lai ở Việt Nam cần thực hiện chương trình bán trả góp đất cho dân để có ngân sách đầu tư xây dựng lại nông thôn.

Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân sẽ luôn là tầng lớp chính của dân tộc Việt Nam và lịch sử đã chứng minh họ luôn là nền tảng trong việc bảo vệ và xây dựng quốc gia. Nông dân có giàu thì nước mới mạnh.

tác giả Nguyễn Quang Duy từ Canberra, Úc.

http://bit.ly/10mf0gi

http://wn.com/toi_ac_cong_san

  CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TRONG LỊCH SỬ

Cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) của cộng sản Việt Nam (CSVN) bắt đầu từ năm 1949 đến năm 1956, diễn ra ở Bắc Việt Nam. Sách báo đã viết nhiều về CCRĐ, về phương pháp CCRD, về tội ác của Hồ Chí Minh (HCM) và CSVN trong CCRĐ.  Bài nầy xin đặt lại cuộc CCRĐ trong khung cảnh lịch sử hiện đại

1.-   TRƯỚC KHI CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Sau thế chiến thứ hai, tại Bắc Kỳ, mặt trận Việt Minh (VM) do đảng CS chỉ huy nhanh tay cướp chính quyền và lập chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-1945 do HCM lãnh đạo.  Trong khi đó, Pháp trở lui Việt Nam, chiếm Nam Kỳ rồi tiến ra Bắc Kỳ.  Hồ Chí Minh liền thỏa hiệp với Pháp, ký hiệp ước Sơ bộ (6-3-1946) tại Hà Nội và Tạm ước (14-9-1946) tại Paris, hợp thức hóa sự hiện diện của Pháp ở Việt Nam.

Pháp càng ngày càng áp lực VM và đòi kiểm soát an ninh Hà Nội, thì VM bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946, để lãnh đạo VM có lý do chính đáng trốn khỏi Hà Nội, tránh bị Pháp bắt.  Việt Minh và HCM để lại Hà Nội 4,000 quân tự vệ nhằm bảo vệ Hà Nội chống Pháp, thực chất là cầm chân quân đội Pháp tại đây để lãnh đạo VM có thời giờ trốn chạy vào các chiến khu trên rừng núi.  Quân tự vệ chiến đấu anh dũng, trong từng ngôi nhà được gần 2 tháng, cầm cự cho đến ngày 17-2-1947 mới hoàn toàn rút lui.  Đây cũng là kế hoạch của HCM và VM, vì cuộc chiến đấu trong gần 2 tháng đã làm cho Hà Nội sụp đổ, nhà cửa hư hại.  Dân Hà Nội bỏ chạy lánh nạn chiến tranh, về vùng nông thôn lân cận do VM kiểm soát.  Việc làm cho Hà Nội sụp đổ hoang tàn đúng theo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến” do HCM đưa ra ngày 16-1-1947, một tháng trước khi cuộc chiến đấu ở Hà Nội chấm dứt. (Hồ Chí Minh toàn tập tập 5, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 25-26.)  “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến” chính là kế hoạch “tiêu thổ kháng chiến”, với những khảu hiệu “Phá hoại để kháng chiến”, “Tản cư cũng là kháng chiến” “Vườn không nhà trống”.

2.-  CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Chủ trương “Vườn không nhà trống” không hiệu quả đối với quân Pháp vì quân Pháp được tiếp liệu dồi dào từ Nam Việt Nam.  Ngược lại “vườn không nhà trống” làm cho dân chúng thêm nghèo đói trong chiến tranh, không có lúa gạo mà ăn, lấy thực phẩm đâu mà nuôi quân CS?  Lương thực nuôi quân càng ngày càng cạn kiệt, nên CSVN mở ra kế hoạch CCRĐ bằng sắc lệnh số 78/ SL ngày 14-7-1949, rất nhẹ nhàng để nông dân cày bừa, tăng gia sản lượng nông nghiệp.  Đây là giai đoạn CCRĐ lần thứ nhứt.

Giai đoạn thứ hai vào năm 1950, CSVN ra sắc lệnh số 20/ SL ngày 12-2-1950, tổng động viên toàn bộ “nguồn nhân lực [người], vật lực [gia súc, nông cụ] và tài lực [tiền bạc] cho tổ quốc”.  Tiếp đó, ngày 22-5-1950, xuất hiện cùng một lúc hai sắc lệnh CCRĐ số 89/FL và số 90/ FL, vẫn chưa nặng nể.

Giai đoạn CCRĐ thứ ba bắt đầu bằng sắc lệnh ngày 20-4-1953, đăng trên Công báo CSVN ngày 20-5-1953.  Giai đoạn thứ tư vào cuối năm 1953, CSVN ra sắc lệnh CCRĐ ngày 4-12-1953 gồm 3 phần, 12 đề mục và 38 điều khoản.

Vào giữa năm 1954, nước Việt Nam bị chia hai sau Hiệp định Genève (20-7-1954).  Cộng sản Việt Nam ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17.  Sau khi tái tổ chức chính quyền, tạm ổn định tình hình, HCM ký sắc luật về CCRĐ giai đoạn thứ 5 ngày 14-6-1955, rất cứng rắn so với các sắc luật trước. (Lâm Thanh Liêm, Chính sách cải cách ruộng đất Việt Nam (1954-1994), Paris: Nhà sách và xuất bản Nam Á, 1995, tr. 14.)  Sau những cuộc thảm sát “long trời lỡ đất”, CCRĐ đợt 5 của CSVN chấm dứt ngày 20-7-1956.

3.-   CỘNG SẢN CÀNG THÀNH CÔNG, CCRĐ CÀNG CỨNG RẮN

Các giai đoạn CCRĐ chẳng những khác nhau về nội dung cải cách mà quan trọng hơn là khác nhau về cách thi hành CCRĐ.  Đặc biệt, CS càng thành công trên chiến trường thì CCRĐ càng cứng rắn.

Trong chiến tranh, khi thiếu lương thực nuôi quân, CSVN mở cuộc CCRĐ một cách nhẹ nhàng, bằng sắc lệnh số 78/ SL ngày 14-7-1949, thành lập “Hội đồng giảm tô”, giảm thiểu đồng bộ tiền thuê đất, nhằm khuyến khích nông dân ra sức cầy bừa, tăng gia sản lượng nông nghiệp, cung ứng nhu cầu đội quân CS càng ngày càng đông.

Từ năm 1950, CSVN được Trung Cộng viện trợ võ khí, quân nhu, quân dụng và cả kinh tế nữa.  Cộng sản bắt đầu chuyển qua phản công trong chiến tranh.  Từ đó, CSVN cần thêm nhân lực, tăng cường quân đội, dân công tải đạn…  Vì vậy gọi là để tiếp tục công cuộc CCRĐ, CSVN ra sắc lệnh số 20/ SL ngày 12-2-1950, tổng động viên toàn bộ “nguồn nhân lực [người], vật lực [gia súc, nông cụ] và tài lực [tiền bạc] cho tổ quốc”.  Nhờ đó, CSVN dễ bắt lính, đưa cả phụ nữ đi dân công, tải đạn.  Kế hoạch đưa phụ nữ đi dân công do tướng Trần Canh đưa ra khi qua làm cố vấn cho HCM năm 1950. (Trương Quảng Ba, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, đăng trong Hồi ký của những người trong cuộc…”, Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Dương Danh Dy dịch, tr. 23.)

Trong thời gian từ 1951 đến 1953, phương pháp CCRĐ cứng rắn dần, nhất là trong các vùng hoàn toàn do CS kiểm soát.  Tuy nhiên, CS còn dè dặt, e ngại tiếng đồn trong quần chúng lan rộng, khiến người ta sợ hãi, bỏ vùng CS mà “dinh tê”, về vùng do chính thể Quốc Gia kiểm soát, hoặc di cư vào Nam năm 1954.

Ngày 20-7-1954, hiệp định Genève được ký kết.  Đảng CSVN làm chủ miền  bắc vĩ tuyến 17.  Ngay khi vừa về Hà Nội ngày 15-10-1954, CSVN ra các quy định nghiêm cấm báo chí: “Không được chống chính phủ và chế độ; không được xúi giục nhân dân và bộ đội làm loạn; không được nói xấu các nước bạn; không được tiết lộ các bí mật quân sự; không được đăng bài vở có phương hại đến thuần phong mỹ tục.” (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài Gòn 1959, tr. 31.)

Nắm vững ngành truyền thông, không còn lo ngại dân chúng Bắc Việt có thể thông tin liên lạc với bên ngoài lãnh thổ, CSVN mở lại cuộc CCRĐ “long trời lỡ đất”, tự do hoành hành bằng phương pháp tàn bạo bất nhân nhất trong lịch sử Việt Nam.  Điều mà dân chúng rất lo sợ trong CCRĐ lần nầy là bị quy vào thành phần địa chủ và bị đưa ra đấu tố trước tòa án nhân dân (TAND).

Cuộc đấu tố bắt đầu bằng đấu lý, rồi đấu lực, đấu pháp và đấu ảnh.  Đấu ảnh khá lạ lùng trong lịch sử tòa án, xảy ra trong trường hợp nạn nhân đã chết.  Đội CCRĐ đem hình ảnh hay một vật dụng tượng trưng (áo, quần…) của nạn nhân để đấu tố.  Nhân vật bị đấu ảnh nổi tiếng nhứt là nhà cách mạng Phan Bội Châu.  Ảnh của ông bị đem ra đấu tố, rồi vứt ảnh vào chuồng trâu.  (Theo lời kể của đại tá cộng sản Phan Thiệu Cơ (cháu nội Phan Bội Châu) do Phan Thiện Chí viết lại trên báo Kiến Thức Ngày Nay số 50, Tp.HCM ngày 15-12-1990.  Ngoài ra, Lê Nhân cũng kể lại việc nầy trong thư viết từ Hà Nội ngày 05-12-2005 gởi cho Phan Văn Khải, lúc đó là thủ tướng CS.  (Đàn Chim Việt ngày 5-12-2005.)  (Người viết cũng được cháu nội Phan Bội Châu ở Canada xác nhận điều nầy khi gặp nhau ở Toronto năm 2006.)

Các biện pháp trấn áp, tra tấn, bắt đầu từ bỏ đói, bỏ khát, phơi nắng, phơi mưa, mắng chửi, hành hạ, nhục hình, thậm chí đào một cái hố, bắt nạn nhân nằm xuống, rồi bắt dân chúng tiểu và đại tiện lên nạn nhân, giựt tóc, đánh đập, gìm nước (rồi kéo lên cho tỉnh lại), dùng tre nhọn xuyên thủng tay chân, thân thể.  Có khi đội CCRĐ chôn nạn nhân xuống đất, chừa cái đầu lên trên, dùng bò kéo lưỡi cày có răng nhọn ngang qua đầu nạn nhân cho đến chết.  Nhiều nạn nhân chứng kiến các cuộc trấn áp dã man, sợ quá, lên cơn đau tim chết, hoặc tìm cách tự tử để khỏi bị hành hạ.

Kết quả theo một tài liệu trong nước, trong cuộc CCRĐ đợt 5 (1955-1956), tổng số người bị quy và bị giết thuộc thành phần địa chủ trong CCRĐ là 172,008 người.  Tài liệu nầy cho biết 123,266 người tức tỷ lệ 71,66% bị quy sai.  (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam tập II, 1955-2000, Hà Nội: Nxb.Khoa Học Xã Hội, 2005, tr. 85.)  Đó mới chỉ là thiệt hại nhân mạng.  Quan trọng hơn nữa là lần nầy, do tự do hoành hành, cuộc CCRĐ hết sức khốc liệt, đẵm máu, vô luân, đảo lộn văn hóa, đạo lý, đúng là “bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn”. (Lời Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo”.)

4.-  TRUNG CỘNG HAY CSVN ĐỘC ÁC?

Theo dõi diễn tiến các cuộc CCRĐ, điểm dễ nhận thấy là trong hai đợt CCRĐ đầu tiên (1949 và 1950), CSVN thực hiện CCRĐ để phục vụ nhu cầu lương thực, nuôi quân trong hoàn cảnh chiến tranh.  Sau đó, CSVN thực hiện CCRĐ theo bài bản “thổ cải” của Trung Cộng.  Nguyên vào đầu năm 1950, Hồ Chí Minh qua Trung Cộng và Liên Xô xin viện trợ.  Stalin giao cho Mao Trạch Đông giúp đỡ CSVN.  Từ đó, Trung Cộng viện trợ và đáp ứng tối đa cho nhu cầu của CSVN, viện trợ võ khí, quân nhu, quân dụng, kinh tế, cả cố vấn quân sự và cố vấn chính trị, trong đó có cả cố vấn CCRĐ.

Sau Đại hội 2 tại Tuyên Quang ra mắt đảng Lao Động (từ 11 đến 19-2-1951), CSVN cử người sang Trung Cộng tham dự khóa học tập về chủ nghĩa Mác-Lê tổ chức tại Bắc Kinh, nhưng chính là để học phương thức CCRĐ theo đường lối “thổ cải” của Trung Cộng. (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ và quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995, tr. 164.)

Theo các cố vấn Trung Cộng, Mao Trạch Đông đã nói “… Cái cây nó cong về bên hữu, ta muốn uốn nó cho ngay thì tất nhiên là phải bẻ cong nó qua về bên tả, bên trái.  Buông ra nó trở lại là vừa.”  Các cố vấn Trung Cộng còn cho rằng:  “Không sợ quá trớn.  Có quá trớn mới bớt lại mà ngay được.  Đấu tranh ruộng đất là một cuộc cách mạng kinh thiên động dịa.  Trong một cuộc đảo lộn lớn lắm của cuộc sống, có người chưa quen, họ kêu.  Không có gì lạ cả.  Ta đánh họ đau mà họ không kêu, đó mới đáng lấy làm lạ chớ…  Một xã có từng nầy bần cố nông thì theo kinh nghiệm Trung Quốc, nhất định phải có bằng nầy địa chủ…” (Nguyễn Văn Trấn, sđd. tr. 166.)  Từ đó cuộc CCRĐ của CSVN trở nên cứng rắn, sắt máu như mọi người đều biết.  Vì vậy, nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh và CSVN thực hiện CCRĐ giai đoạn thứ 5 tàn bạo theo mô thức Trung Cộng vì do sức ép của Trung Cộng.

Điều nầy không ai phủ nhận. Tuy nhiên, nhìn thật kỹ từ phía CSVN, bản thân Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo CSVN chẳng những rất ưng ý mô thức tàn bạo của Trung Cộng, mà còn cố tình làm mạnh hơn, không phải chỉ vì CSVN vâng lời Trung Cộng, mà chính vì bản chất gian ác, Hồ Chí Minh và CSVN tự ý cố tình làm như thế.  Vì vậy, không thể nói cuộc CCRĐ ác độc là do lệnh của cố vấn Trung Cộng, mà còn vì sự ác độc thú tính của Hồ Chí Minh và lãnh đạo CSVN.

5.-  ĐẤT ĐAI CỦA TOÀN DÂN DO NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ

Âm mưu chính của CSVN là muốn xóa bỏ quan niệm tư hữu đất đai thâm căn cố đế của nông dân Việt Nam, là giới rất bảo thủ và thủ cựu, đồng thời CSVN muốn áp đặt nền nông nghiệp chỉ huy của chế độ CS, thực hiện chủ trương đất đai thuộc “quyền sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý”.  Xin hãy chú ý đến tổ chức hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) do CS bày ra sau CCRĐ.  Sau CCRĐ, CSVN chia đất cho nông dân cày cấy, nhưng nông dân chưa kịp mừng vui, thì CSVN tổ chức HTXNN, lùa nông dân vào HTX, buộc nông dân đem đất đã được chia và cả đất riêng nhỏ nhoi do tổ tiên để lại, gia nhập vào đất HTX do nhà nước quản lý.  Từ đây, nông dân hoàn toàn tay trắng, chẳng còn đất đai, chỉ làm công cho HTX tức cho nhà nước CSVN, nghĩa là CSVN chẳng những ăn cướp đất của địa chủ, phú nông mà ăn cướp cả đất của nông dân nghèo khổ hết sức bài bản vào tay CSVN.

Một khi đã quản lý đất đai canh tác ở nông thôn, đảng Lao Động (LĐ) quản lý luôn kho lúa gạo toàn dân, nghĩa là dễ dàng làm chủ nền kinh tế nước nhà, bởi vì nền kinh tế Việt Nam lúc đó hoàn toàn dựa trên nông nghiệp.  Quản lý lương thực đồng thời, còn giúp quản lý hộ khẩu (gia đình) vì gạo bán theo sổ hộ khẩu.  Đó là lý do chính của cuộc CCRĐ giai đoạn thứ 5 vào năm 1955.

6.-  THIẾT LẬP HỆ THỐNG LÃNH ĐẠO CS Ở NÔNGTHÔN

Âm mưu thứ hai là cuộc CCRĐ nhắm xóa bỏ hệ thống cấu trúc xã thôn cũ và thay bằng lãnh đạo CS.  Tổ chức xã thôn Việt Nam có từ lâu đời và rất phức tạp, gồm có (bất thành văn):  Ban cố vấn, Hội đồng kỳ mục, và Hương hội.   Tổ chức xã thôn cũ còn có đặc tính chung là tự trị.  Tục ngữ có câu: “Luật vua thua lệ làng”.  Chẳng những tự trị, sinh hoạt xã thôn rất dân chủ.  Các việc quan trọng trong làng đều được đem ra bàn bạc trong các kỳ họp hằng tháng tại đình làng để hỏi ý dân.  Điều nầy đi ngược lại với lối cai trị độc tài của CS.  Do đó, CCRĐ với những màn đấu tố dã man nhằm xóa bỏ hẳn cấu trúc xã thôn với những tổ chức và nấc thang giá trị văn hóa cũ, để thay thế bằng tổ chức xã thôn mới, hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của cán bộ đảng viên CS.  Giới lãnh đạo xã thôn cũ lại là giới khá giả trong làng, có ít nhiều ruộng đất, nên dễ bị CS quy vào thành phần địa chủ, và trở thành đối tượng đấu tố trong cuộc CCRĐ do đội CCRĐ đưa ra đấu tố, đúng theo chủ trương: “Trí, phú, địa, hào; đào tận gốc, trốc tận rễ”, mà cộng sản quyết tâm càn quét toàn bộ giới lãnh đạo cũ trong làng.

7.-   CHUẨN BỊ TẤN CÔNG NAM VIỆT NAM

Âm mưu thứ ba là CSVN tổ chức thanh lọc kỹ càng dân chúng Bắc Việt Nam, ổn định tuyệt đối nông thôn Bắc Việt Nam.  Hồ Chí Minh vốn là một gián điệp của Đệ tam Quốc tế Cộng sản, đã học ngành tình báo tại Moscow (Liên Xô).  Sau năm 1954, Hồ Chí Minh và CSVN lo sợ chính phủ Quốc Gia Việt Nam và các tổ chức hay đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc hoặc các tôn giáo, gài người ở lại đất Bắc sau hiệp định Genève.   Xa hơn, CSVN nghi ngờ các thế lực thù địch cho người trà trộn trong nhóm miền Nam tập kết ra Bắc để phá hoại hoặc làm tình báo.  Vì vậy, tiến hành CCRĐ là phải truy xét, soi rọi lý lịch ba đời nông dân, điều tra cặn kẽ, không bỏ sót bất cứ một gia đình hay nhân vật nào bị nghi ngờ có thể nằm trong mạng lưới điệp viên của miền Nam.

Cuộc CCRĐ áp đặt nông thôn Bắc Việt Nam với khoảng 70% dân số, dưới quyền thống trị của CSVN,

mở đầu cho kế hoạch áp đặt sự toàn trị của CSVN ở Bắc Việt Nam sau 1954, bằng việc cải cách công thương nghiệp ở thành phố, khóa sổ báo chí (vụ Nhân Văn Giai phẩm) và thanh trừng nội bộ đảng CSVN (Vụ án chống đảng), đi đến chỗ ổn định tuyệt đối Bắc Việt Nam, nhằm chuẩn bị tấn công Nam Việt Nam.

8.-  ĐOẠN KẾT CCRĐ: THỜI CƠ CHO LÊ DUẪN

Trong khi đó, Lê Duẫn đứng đầu Trung ương cục miền Nam (đổi thành Xứ ủy Nam Bộ tháng 10-1954, rồi trở lại TƯCMN  tháng 1-1961).  Lê Duẫn đã dày công xây dựng cơ sở CS ở miền Nam trong thời gian chiến tranh (1946-1954).  Tuy nhiên, thành tích nầy không sáng chói bằng giới lãnh đạo CS ở miền Bắc.  Vì vậy sau năm 1954, Lê Duẫn  trốn lại ở miền Nam, quyết chí đánh miền Nam, vì nếu CSVN đánh miền Nam, thì quyền lãnh đạo chiến tranh chắc chắn phải vào tay Lê Duẫn.  Vì tham vọng quyền lực, nên Lê Duẫn nóng lòng đánh miền Nam, nhằm tạo hào quang cho chính mình.

Điểm đáng chú ý là tuy phản ứng của dân chúng đối với sự tàn bạo của cuộc CCRĐ năm 1956 bị dẹp yên, nhưng để lấy lòng dân chúng, hội nghò Trung öông ñaûng LÑ laàn thöù 10 töø thaùng 9 ñeán thaùng 11-1956, quyết định Trường Chinh, trưởng ban chỉ đạo CCRĐ trung ương, rời chức tổng bí thư đảng LĐ tuy vẫn còn trong Bộ chính trị.  Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng LĐ, kiêm nhiệm chức vụ nầy.

Lúc đó, Lê Duẫn đang nằm vùng ở miềnNam, không lãnh đạo CCRĐ giai đoạn 5 ở ngoài Bắc, không bị tai tiếng vì vụ CCRĐ, nên được gọi về Hà Nội ngày 4-7-1957, giữ chức ủy viên thường vụ bộ chính trị đảng LĐ, phụ tá cho Hồ Chí Minh.  Sau đó, đại hội III đảng LĐ từ 5-9 đến 10-9-1960 bầu Lê Duẫn làm bí thư thứ nhất (không phải là tổng bí thư) thay Trường Chinh.  Như thế có nghĩa là kết cục của CCRĐ năm 1956 tạo cơ hội cho Lê Duẫn thay Trường Chinh.  Nhờ đó Lê Duẫn thăng tiến nhanh chóng.

Ngày nay, một số người cho rằng việc CCRĐ do Hồ Chí Minh chủ trương, còn việc tấn công Nam Việt Nam do Lê Duẫn thúc đẩy, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh Nam Việt Nam (?).  Xin lưu ý một điểm quan trọng: chủ trương tấn công Nam Việt Nam do chính Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đưa ra đầu tiên tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây) từ 3 đến 5-7-1954 với thủ tướng Trung Cộng là Chu Ân Lai, trước khi hiệp định Genève được ký kết.  Lúc đó Lê Duẫn còn ở trong Nam và không tham dự hội nghị nầy.  Như vậy, không thể nói là Hồ Chí Minh không chủ trương tấn công Nam Việt Nam mà phải khẳng định chắc chắn rằng chủ trương tấn công miền Nam là do tham vọng của Hồ Chí Minh và toàn thể tập đoàn lãnh đạo CSVN, muốn thống trị toàn cõi Việt Nam.  Cấp bậc càng cao, trách nhiệm và tội lỗi càng nhiều.

KẾT LUẬN

Đặt các giai đoạn CCRĐ từ 1949 đến 1956 trong khung cảnh lịch sử, những điểm dễ thấy là: 1) Nội dung và phương pháp các giai đoạn CCRĐ do CS thực hiện thay đổi theo hoàn cảnh chiến tranh.  Lúc đầu (năm 1949), nhẹ nhàng để tăng gia lương thực nuôi quân, rồi khi CS siết chặt vùng cai trị, thì CCRĐ cứng rắn dần dần, và trở nên tàn bạo theo sự thành công của CS trên chiến trường.  Cuộc CCRĐ lên cực điểm dã man sau khi CSVN chiếm được miền Bắc Việt Nam sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  2) CCRĐ khốc liệt không phải chỉ do sự chỉ đạo và hỗ trợ của cố vấn Trung Cộng, mà do chính lãnh đạo CSVN tự ý muốn đẩy mạnh CCRĐ đến độ tàn bạo để thực hiện chủ quyền và chủ thuyết  CS.  3) CCRĐ nằm trong tiến trình của CSVN cải đổi nền nông nghiệp tư nhân tự do qua nông nghiệp chỉ huy của CS theo chủ trương “đất đai là tài sản của toàn dân do nhà nước quản lý”. 4) CCRĐ nhắm xóa bỏ hệ thống lãnh đạo xã thôn cũ và thay bằng lãnh đạo của CSVN. 5) CCRĐ cấp bách ổn định Bắc Việt Nam, để tiến hành chiến tranh xâm lăng Nam Việt Nam của giới lãnh đạo CSVN.  6)  Kết cục của CCRĐ đưa đến sự thoái lui tạm thời của Trường Chinh, lý thuyết gia hàng đầu của CSVN, tạo thời cơ cho Lê Duẫn tiến lên.

Cuối cùng, một kẻ giấu mặt trong CCRĐ là Trung Cộng.  Trung Cộng xúi giục CSVN thực hiện CCRĐ một cách tàn bạo, vì Trung Cộng ngầm chủ trương tàn phá Việt Nam.  Việt Nam càng bị tàn phá, càng yếu kém, thì càng có lợi cho Trung Cộng.

TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, 23-9-2014)

trích bài của Bùi Tín

…Chấn chỉnh Tổ chức là chủ trương lớn tiếp theo ngay sau CCRĐ. Đó là sắp xếp lại nhân sự, phân phối lại các chức vụ trong đảng, chính quyền, Mặt trận, các tổ chức quần chúng, từ xã thôn lên huyện tỉnh và trung ương. Bần cố nông, không ít là kẻ thất học, lưu manh, cơ hội lên ngôi, chùa chiền, nhà thờ đóng cửa, sách vở bị thiêu hủy, sách văn học nghệ thuật, ngoại ngữ, từ điển bị diệt sạch. Hoành phi, câu đối bị vứt xuống làm cầu ao, tượng Phật bị bẻ đầu, chặt tay, bàn thờ trong nhà bị dẹp bỏ, biết bao ảnh kỷ niệm quý hiếm bị đốt hủy. Một thời kỳ u ám tối tăm lan tràn, phong tục tập quán đẹp đẽ lâu đời bị dẹp bỏ. Một nền đạo lý cổ kính bị thủ tiêu. Có cuộc triển lãm nào nói lên được sự mất mát về văn hóa tinh thần như thế, khi ông Chu Văn Biên bí thư Liên khu ủy Liên khu 4 (gồm cả Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên) nêu gương “sáng chói”, dám chỉ vảo mặt mẹ đẻ của mình mà mắng: «Mi đẻ ra tau nhưng mi bóc lột bà con nông dân nên mi là kẻ thù giai cấp của tau, mi phải bị tội chết». Cụ Đặng Văn Hướng, nguyên Tham tri Bộ Tư pháp, có con trai là Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt, có biệt danh «Đệ Tứ Lộ Đại Vương» – Vua đường số 4 – bạn rất thân của tôi, Cụ được Hồ Chí Minh cử làm bộ trưởng nhưng, vẫn bị đưa ra đấu tố ở Diễn Châu. Cụ Nguyễn Khắc Niêm từng đậu Hoàng giáp Hán học, cũng từng là Tham tri Bộ Tư pháp có con là Nguyễn Khắc Viện, chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp, và Nguyễn Khắc Dương, bạn rất thân của tôi, cũng bị đấu tố, giam trong chuồng nuôi hươu, ăn cơm thiu bọc trong lá chuối và chết trong thảm cảnh ấy.

Một thời gian ở trong Ban biên tập báo Nhân Dân, rất gần cơ quan trung ương đảng CS Việt Nam, được dự nhiều cuộc họp cán bộ cấp cao, tôi thấy có mối liên quan giữa sai lầm CCRĐ với đường lối bạo lực ở miền Nam. Đầu năm 1956, đảng CS Liên Xô mở Đại hội XX, chống sùng bái cá nhân Stalin, rồi tháng 11/1957 mở Hội nghị 68 đảng Cộng sản toàn thế giới tại Moscow, có Mao Trạch Đông sang tham dự với tình nghĩa Xô – Trung còn gắn bó. Đến tháng 11 năm 1960, Liên Xô lại triệu tập cuộc họp 81 đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế, mâu thuẫn Xô – Trung bộc lộ ngay từ trong các văn kiện chuẩn bị, vu cáo nhau là phản bội chủ nghĩa Mác – Lênin, Trung Quốc lên án Liên Xô là theo chủ nghĩa Xét lại, Liên Xô lên án Trung Quốc theo chủ nghĩa Giáo điều. Tại hội nghị này, hơn 70 đảng tán thành lập trường của đảng CS Liên Xô, nhấn mạnh khả năng giữ vững hòa bình, chung sống hòa bình, thi đua hòa bình giữa các chế độ khác nhau, ngăn ngừa chiến tranh, trong khi đẩy mạnh cả 3 dòng thác cách mạng của thời đại, vì hòa bình, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ chuẩn bị cũng như khi dự, đoàn đại biểu VN gồm Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh tỏ ra theo đa số, tán thành đường lối của Liên Xô. Thế nhưng sau đó, khi trở về nước xu hướng theo đường lối chung sống hòa bình của Liên Xô bị đường lối bạo lực của Trung Quốc lấn át.

Suốt năm 1961 và 1962 từ sáng đến khuya đài Tiếng nói Việt Nam phát đi các văn kiện tranh luận Trung – Xô về đường lối cách mạng thế giới, ngày càng ngả về phía chống chủ nghĩa xét lại, coi xét lại là chống đảng, là phản động, là chống lại cuộc đấu tranh bằng bạo lực cách mạng ở miền Nam. Trong Bộ Chính trị từ sau đại hội III (tháng 9/1960), Lê Duẩn chính thức là Bí thư thứ nhất (sau cuộc họp Trung ương 10 sửa sai CCRĐ, Hồ Chí Minh là Chủ tịch đảng kiêm Tổng Bí thư thay Trường Chinh bị mất chức này). Lê Đức Thọ cũng được vào Bộ Chính trị trong cuộc họp Trung ương 10. Cánh Lê Duẩn + Lê Đức Thọ + Phạm Hùng + Nguyễn Chí Thanh + Võ Chí Công + Tố Hữu (ủy viên Ban Bí thư Trung ương) trở thành nhóm chủ đạo cứng rắn chủ trương giải phóng miền Nam bằng bạo lực quân sự, ngày càng có tiếng nói áp đảo. Hồ Chí Minh bị cô lập, đành ngồi yên không tham gia bỏ phiếu, tướng Giáp bị ghép vào tội cầm đầu nhóm xét lại chống đảng, có quan hệ tư túi với Đại sứ Liên Xô Serbakov, may mà được ông Hồ «bảo lãnh» nên còn tại vị, nhưng chán nản, quay sang học đàn dương cầm. Một loạt cán bộ xét lại bị cặp Duẩn – Thọ thải hồi, cho vào tù như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Hoàng Minh Chính, các Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Đỗ Đức Kiên, Hoàng Thế Dũng… cùng hàng mấy chục nhà báo, nhà văn, nhà điện ảnh khác. Sau khi nhóm xét lại bị gạt bỏ, nhóm chung sống hòa bình, cạnh tranh hòa bình bị chụp mũ là chống đảng, xu hướng chủ chiến càng thêm mạnh, được bổ sung thêm bằng những võ sỹ chủ chiến hạng nặng như Chu Huy Mân, Lê Đức Anh.

Nếu như không có sai lầm trong CCRĐ, có thể Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương đã đứng vững trên cương vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, được Hồ Chí Minh chủ trì, được Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Võ Nguyên Giáp tích cực yểm trợ, giữ thế ngả về đường lối hòa bình do Liên Xô chủ đạo và được tuyệt đại đa số phong trào CS quốc tế tán thành, trong khi vẫn giữ quan hệ bình thường độc lập với Trung Quốc. Như thế thì không chắc gì nhóm Duẩn – Thọ có thể đoạt được quyền lãnh đạo. Từ đó, may ra cuộc nội chiến anh em Nam Bắc với hàng mấy triệu sinh linh tử vong đã có thể tránh được.

Vâng, thưa các bạn chúng ta đau về những gì đã mất, hàng mấy triệu người bị tàn sát nhân danh đấu tranh giai cấp. Chuyển hóa dân chủ là biện pháp duy nhất để chuộc lại những sai lầm dai dẳng, những tàn phá kinh hoàng, để làm bừng dậy sức sống vô tận của dân tộc Việt Nam trong một kỷ nguyên dân chủ đang ở trong tầm tay chúng ta.(Bùi Tín)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s