THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG TỪ 30.4.1975

voegel-0032BIỆN LUẬN VỚI ĐẦU GỐI “Quảng Nam hay cải …………. !”

(lời thuật chuyện của Luật sư Bùi về BS Hoạt tranh luận với CS) Hè 2000 tôi lên Paris họp bạn hội Cựu học sinh trường Blaise Pascal Đà-nẵng. Tân bạn học cùng lớp báo cho tôi một tin mừng: “Bác sĩ Hoạt, bệnh viện Đa-khoa Đà-nẵng trước 75 đang ở Paris với vợ. Họ từ Canada sang du lịch”. Nghe tin một bạn thân xa cách nhau đã 25 năm, tôi (Luật sư Bùi) mừng quá. Bao nhiêu tang thương trong khoảng thời gian ấy. Là một luật sư (cộng sản đâu có nghề nầy), tôi phải sống chật vật, buôn chợ trời với vợ. Mãi đến năm 1978 nhờ ông anh ruột ở Pháp bảo lãnh, tôi sang Marseille. Lận đận suốt ba năm, vừa đi dạy vừa học, lấy lại bằng rồi hành nghề trong một tổ hợp luật sư ở Marseille. Cuộc sống có phần thoải mái, nhất là gia đình đầm ấm và con cái học hành tốt. Nhớ thời 75, chịu nhiều tủi nhục dưới chế độ cộng sản, tôi khâm phục anh Hoạt lắm. Chúng nó mới vào, dương dương tự đắc, thế lực nghiêng trời, mà anh dám đương đầu với chúng. Phần lớn chúng tôi nhút nhát và muốn yên thân, Cộng sản nói gì thì im lặng nghe. Tôi còn nhớ một tuần lễ sau khi chiếm Đà-nẵng (29-3-75) Ủy ban quân quản thành phố triệu tập tất cả trí thức Đà-nẵng họp tại trường Phan thanh Giản để nghe huấn thị. Buổi họp có chừng 100 người, gồm bác sĩ, dược sĩ, luật sư và giáo sư trung học của chế độ cũ. Chủ tọa buổi họp là trưởng ban tuyên huấn thành Đảng. Nghe nói xưa kia ông chỉ là một anh thợ dệt, song ăn nói khá lưu loát. Ông ta đưa ra hai đề tài: thứ nhất là cuộc chiến thắng thần thánh mùa Xuân 75 chống Đế quốc Mỹ. Thứ hai là cuộc xây dựng nước nhà mười lần hơn xưa. Với đề tài thứ nhất ông nói trong một giờ về đỉnh cao trí tuệ của đảng biết vận dụng chủ nghĩa MacLénin, vượt hẳn trí tuệ của 5 đời Tổng thống Mỹ và tập đoàn, cuối cùng đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, tạo nên chiến thắng lẩy lừng Xuân 75. Nói xong ông ta hỏi cử tọa có ý kiến gì không và nhấn mạnh là mọi người được tự do phát biểu: – Chúng tôi không làm khó dễ quý vị, cũng không căn cứ trên phát biểu mà đánh giá các ông đâu. Sau nầy sang Pháp đọc hồi ký cha Jaeger, một linh mục dòng Tên, bị Cộng sản Trung quốc trục xuất, mới biết khi Hồng quân chiếm Trung hoa lục địa, họ mời trí thức đến dự một cuộc tọa đàm, ăn bánh kẹo ngon, uống trà thượng hạng. Song là để moi những ý tưởng phát biểu, để rồi trừng trị sau nầy. Việt cộng cũng chỉ sao lại bổn cũ.

Cả hội trường hôm ấy im phăng phắc trong 5 phút, bỗng anh Hoạt đứng lên phát biểu: – Xin lỗi thuyết trình viên, khi ông nói đến chiến thắng Mỹ, ông nên xét lại những điểm sau đây: – thứ nhất trong cuộc chiến vừa qua người Mỹ chết độ 5 vạn quân, còn ta cả số triệu. – Thứ hai, đất nước chúng ta bị tàn phá còn nước Mỹ chẳng hề hấn gì. – Thứ ba, chính phủ Mỹ thấy chiến tranh không mang lại kết quả mong muốn đã rút lui và xuống thang chiến tranh cách đây ba bốn năm. Những ngày cuối tháng tư 75, họ chỉ còn di tản tòa Đại sứ Mỹ ở Saigon với bảo đảm an toàn của Liên xô và Trung quốc. – Thứ bốn khi người Mỹ tuyên bố thua ở Việt nam là họ quỷ quyệt. Xưa nay dư luận thế giới chê trách Mỹ là tên khổng lồ ăn hiếp kẻ yếu. Nay tên khổng lồ tự nhận thua, tự nhiên mặc cảm ỷ mạnh hiếp yếu, mặc cảm tội lỗi, đã được hóa giải cho cả dân Mỹ và dư luận thế giới. Ngoài ra báo chí Tây phương thường biện luận cho rằng Mỹ thua ở Hoa thịnh Đốn chứ không phải ở Việt Nam. Dân chúng Mỹ đã chán chiến tranh Việt Nam, chính phủ Mỹ phải theo ý dân. 62030_125062897643831_1379754625_nTôi nói lên những điều nầy, là để các ông sáng suốt lượng định vị trí của mình, mà ứng xử với thực tại. Nếu không sẽ có những phản ứng bất lợi (quả là phát biểu ngày ấy của anh Hoạt đã được nói đến một thất bại lớn của CS vì đã quá huyênh hoang về chuyện thắng Mỹ: Mới đây một tác giả Ấn Độ có viết quyển sách “huynh đệ tương tàn”trong ấy ông có nhắc chuyện CS Việt Nam và Mỹ vẫn tiếp tục họp ở Paris sau ngày 30-4-75, bàn về lời Nixon hứa sẽ viện trợ 2 tỉ mỹ kim xây dựng lại những tàn phá trong chiến tranh. Bên phía CS vẫn luận điệu mạt sát Mỹ về những tội ác Mỹ gây ra. Họ không ngờ là buổi họp được trực tiếp thu hình gửi về quốc hội Mỹ đang họp về vấn đề viện trợ. Trước những lời nói huyên hoang đánh cho Mỹ cút, và yêu sách Mỹ phải đền bù những tội ác gây ra cho nhân dân Việt, quốc hội Mỹ đã đồng thanh bác bỏ viện trợ, không cho một cắc nào.) Sau lời phát biểu của anh Hoạt hôm ấy, cả Hội trường bỗng nhiên im lặng một cách đáng sợ. Ông chủ tọa lên tiếng: – Chúng tôi sẽ tổ chức những buổi học tập dài hạn, để đả thông những gì ông Hoạt đã phát biểu. Nay tổ quốc chúng ta đã hoàn toàn độc lập thống nhất. Theo lời Bác Hồ ta sẽ xây dựng gấp 10 lần hơn xưa.

Chúng ta ở trong khối XHCN, một chế độ ưu việt nhất của loài người. Cứ như thế ông thao thao bất tuyệt trong một giờ nữa, nào là chủ nghĩa Mac Lénin bách chiến bách thắng, nào ai thắng ai trong cuộc xây dựng xã hội tốt đẹp tương lai. Rồi ông hỏi trí thức Đà Nẵng có ý kiến gì cho việc xây dựng nước nhà trong đường lối XHCN. Anh Hoạt lại đứng lên phát biểu: – Quý vị là những người Cộng sản. Lénin nói: “người vô sản không có tổ quốc” (les prolétaires n’ont pas de patrie). Staline nói thêm: “họ có hai tổ quốc, một là của quốc tịch họ, hai là của XHCN và tổ quốc nầy quan trọng hơn” (ils en ont deux, celle de leur nationalité, et la plus importante celle du socialisme ). Quý vị thiết tha xây dựng một thiên đường toàn thế giới và hạn hẹp hơn một XHCN Việt Nam phú cường, hạnh phúc. (anh Hoạt nhắc lại những lời của các ông tổ XHCN để họ thấy là họ đã vong quốc, song họ ít học, mê muội đâu có biết gì). Nhưng tôi nghĩ thiên đường quốc tế còn xa vời. Tôi chỉ nói đến phú cường hạnh phúc của tổ quốc ta. Muốn đạt đến mục đích nầy, không cần phải rập khuôn theo một chủ nghĩa, lý thuyết nào. Chỉ cần hai điểm, một là dân trí cao, hai là biết áp dụng khoa học kỷ thuật. Dân trí cao là người dân có một trình độ học thức, có ý thức về bổn phận công dân, biết tôn trọng pháp luật, có lòng yêu nước. Áp dụng khoa học kỷ thuật để tăng cao năng suất nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi để đem lại no ấm cho mọi người. Nông nghiệp chúng ta là đang ở thời kỳ Hồng Bàn, một nông dân sản xuất chỉ nuôi được hai người, nếu cơ giới hóa như các nước Tây phương, một nông dân sản xuất nuôi cả 100 người. Lấy một ví dụ khác: Nước Thuỵ Điển, cứ ba người dân có một người trình độ Đại học, hai người có một xe ô-tô, lợi tức bình quân đầu người hàng năm là 30.000 đô. Phải chăng đây là mục tiêu chúng ta nhắm tới. Nhưng Thuỵ Điển chỉ là một nước quân chủ. Họ đâu cần chủ nghĩa Mac Lénin. Họ đâu cần duy vật sử quan.

Một nhận xét khác làm chúng ta suy nghĩ: Nhật Bản, Tây Âu, sống trong dư thừa. Còn Liên Xô hàng năm phải chở vàng sang Canada, Mỹ mua lúa mì, sữa. Lần nầy thì có một giáo sư trường Phan Châu Trinh, nghe nói là một tay nằm vùng, gọi là cách mạng 29-3, lên tiếng gay gắt: – Anh Hoạt có biết là bác Hồ, sau bao nhiêu năm bôn ba hải ngoại để tìm con đường cứu nước. Một ngày kia ở Pháp, bác đã đọc được luận cương của Lénin về Giải phóng dân tộc nhược tiểu, bác đã khóc lên vì sung sướng: con đường cứu nước là đây rồi. Chỉ có con đường XHCN mới mang lại độc lập, phú cường,hạnh phúc cho tổ quốc ta.(Chắc anh nầy quên là các nướcẤn Độ, Thaí lan, Phi Luật Tân đã độc lập trước ta rất lâu và không đổ xương máu. Bác Hồ đã đi trật đường rầy). Ông chủ tọa ngăn không cho anh giáo sư nói thêm. Chắc là muốn khuyến khích tự do phát biểu để moi thêm tư tưởng phản kháng. Ngày gia đình tôi rời Việt Nam đi Pháp, tôi nghe anh Hoạt đang học tập cải tạo ở Tiên Lãnh. Nóng lòng muốn biết những gì xảy ra cho anh và gia đình, tôi hỏi Tân số điện thoại anh ở khách sạn. Rất may là có anh ngay ở đầu giây. Kinh ngạc và mừng tủi. Chúng tôi hẹn nhau ăn cơm tối tại một nhà hàng do một người quê Đà Nẵng làm chủ, mà chúng tôi cùng quen. Buổi gặp nhau thật thắm thiết. Cả mấy tiếng đồng hồ chúng tôi ôn lại chuyện cũ. Nhớ những ngày thơ cùng đuổi bướm, tuổi thiếu niên say mến bạn, chuyện không bao giờ dứt dưới trăng khuya. Thế mà bây giờ là hai bạn già:

“Mới thoáng đâu đây, đã thấy già Nhà xưa, trường cũ, bến sông xa. Nắng vờn đường bướm, xuân vô tội. esinTrăng tỏ bạn vàng, hạ thiết tha Bờ cỏ nụ hôn, mùa đắm đuối. Bên nôi tiếng trẻ, phúc chan hòa. Tang thương phù thế, thương đau lắm. Chưa dứt cơn mê đã thấy già.”

Nhưng rồi vốn lạc quan, chúng tôi trở lại những đề tài vui. Anh Hoạt kể thêm cho tôi nghe những chuyện khôi hài khi anh làm việc chung với bọn cộng sản: – Mỗi cuối tuần đều có học tập chính trị. Có một lần thuyết trình viên nói: “chủ nghĩa Mac-Lê là tột đỉnh của tri thức nhân loại”. Trước đó ông ta có khoe khoang rằng không có thắc mắc nào mà ông không giải đáp được. Tôi hỏi ông: “thế thì nhân loại hết tiến hóa rồi sao. Vì nếu vượt lên thì tri thức Mac-Lê đâu còn là tuyệt đỉnh nữa”. Ông ta bí và hẹn sẽ nghiên cứu lại và trả lời sau. Song mấy lần sau không nghe ông nhắc lại. Thật ra cả Mác lẫn Lênin vẫn chưa tìm ra một hình thức xã hội nào sau XHCN, chỉ nói bâng quơ về triệt tiêu giai cấp và chính phủ. Gần đây Hà Sĩ Phu trong bài Chia tay ý thức hệ đã đả phá chủ nghĩa Mac -Lê, vạch ra những sai lầm căn bản của lý thuyết âý. Phải nói anh chàng Hà Sĩ Phu nầy là một nhà khoa học mà bàn đến triết rất sâu sắc. Đúng là chủ nghĩa Mac-Lê có trình độ văn hóa thấp, nên chẳng qua là phong kiến biến tướng, độc tôn tư tưởng vì phương pháp luận hoàn toàn khủng hoảng. Nhưng khi ông nói chúng ta hãnh diện có Mac là người khổng lồ nhân từ cho ta được phép đứng lên vai, thì quả là ông bị nhồi sọ hơi nặng. Mac không có nhân từ. Vợ, con cái, mà không thương, thì nói chi chuyện thương thợ thuyền. Ngày ở Luân đôn, nhà không sưởi, các con bị sưng phổi lần lượt chết, Mac trốn vào thư viện đọc sách. Mac cũng tư tình với con ở, làm buồn lòng bà vợ, dòng dõi quý tộc. Dùng lời dao to búa lớn, đòi đào mồ chôn sống tư bản. Mấy ông cộng sản làng tôi nghe lời nầy mà chôn sống vài tay địa chủ. Phải nói Dickens, Anderson, Maupassant, George Sand, là nhân từ. Bằng cách phơi bày cảnh lầm than của thợ thuyền nghèo khổ, họ đánh thức lương tâm Âu Châu, tạo nên chế độ xã hội công bằng, nhân ái ở các nước phương Tây hiện nay. Khi ông Sĩ Phu viết: “Nước Nga có chuyện lạ đời, đưa người nô lệ thành người tự do” , thì quả là tếu. Chế độ Xô viết có tự do ngày nào đâu! Lại tạo ra vô vàn nô lệ lao động. Mãi đến đời Gorbatchev cho tự do, là ngọn thuỷ triều chôn vùi chế độ, đến nổi chính Gorbatchev không ngờ tự do làm tiêu ma đảng cộng sản. Một lần khác, nhân dịp Tết 75, khu giải phẫu có tổ chức buổi tiệc tất niên. Mỗi người hiện diện phải hát một bài, hoặc kể một chuyện vui. Đến lượt tôi, tôi kể chuyện rằng trong một ngày giổ ở nông thôn, các cụ già đến dự đều có mang theo quạt vì trời nóng. Một cụ khoe rằng mình đã gìn giữ cái quạt năm năm mà vẫn còn mới. Hỏi bí quyết ông ta thổ lộ rằng mình chỉ dùng quạt khi đi ăn giỗ, còn về nhà thì xếp quạt cất vào rương. Lần lượt nhiều cụ khoe khoang bí quyết mình. Song có một cụ khoe rằng đã giữ quạt mình 20 năm rồi mà không hề suy suyển. Mọi người sửng sốt, song cụ giải thích: “các anh mỗi lần dùng quạt thì phất qua, phất lại. Chuyển động sẽ làm quạt mau hư. Còn tôi, tôi giữ quạt đứng yên, nhưng lắc đầu qua lại cho mát”. Khi tôi kể xong mọi người đều cười. Nhưng tôi nhẫn nha thêm một kết luận: “cái quạt làm ra là để phục vụ cho con người được mát. Nếu quạt hư thì vứt sọt rác và mua quạt khác. Tại sao lại muốn quạt nguyên vẹn, mà phải trẹo cổ. Lý thuyết, chủ nghĩa cũng thế, cũng chỉ để phục vụ con người. Nếu lý thuyết không còn hợp thời nữa thì ta vứt vào sọt rác của lịch sử. Đâu có phải vì muốn giữ lý thuyết trong sáng mà đày đọa con người đến chỗ chết”. Họ biết ngay tôi muốn ám chỉ cái gì. Nhưng họ im lặng, vì họ đang ở thế mạnh, và đã có phương pháp trừng trị rồi, song chưa đến giờ ra tay.

Tôi góp ý với anh Hoạt: – Đọc kiếm hiệp Kim Dung, có nói đến vô chiêu thắng hữu chiêu. Tư bản theo vô chiêu: ứng phó hợp với biến thiên ngoại cảnh, XHCN theo hữu chiêu, lúc nào cũng xem lại cẩm nang Mac-Lê trước khi ứng phó. Dĩ nhiên là vụng về và xa rời thực tế là cái chắc. Hà Sĩ Phu cũng có ý kiến giống anh: “một người ôm khư khư đôi giày mới bóng loáng, đi trên con đường gai góc. Lúc té ngã, chân tóe máu, ai cũng tưởng phen nầy anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giày xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp anh ta tự hào về sự thông minh của mình rằng nếu không thì cú vấp ngã vừa rồi hẳn đã làm hư mất đôi giày quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt”. Sĩ Phu còn thêm: “cộng sản đã đổi phương tiện (lý thuyết Mac- Lê) thành mục đích và biến mục đích là dân tộc trở thành phương tiện. Ấy thế mà dân tộc ta phải chịu nhiều mất mát trong quá khứ và cho đến nay vẫn còn chìm ngập trong đau khổ”. Anh Hoạt kể: – Sau những va chạm kể trên, những nhân viên cũ đều lo lắng cho tôi. Một bác sĩ cũ mà sau nầy trở thành đối tượng Đảng, đã nói với tôi: “anh nói làm gì cho mất công. Họ có nghe anh đâu, vì họ đinh ninh là họ có sự thật và bọn mình là một lũ ngu dốt”. Điều nầy đã được chứng minh. Trong một buổi giao ban, bác sĩ giám đốc mới từ Hà-nội vào đã nói thẳng: – Các anh ở trong nầy dốt lắm. Sửng sốt tôi hỏi: – Tại sao anh bảo chúng tôi dốt. – Lý thuyết hay nhất trên thế giới hiện nay là chủ nghĩa Mac- Lê, mà các anh không biết đến. Như thế không phải dốt sao! – Xin lỗi anh, có lẽ anh đón gió có một phương. Ở trong Nam chúng tôi đón gió bốn phương. Mac, Lénin chúng tôi có đọc, trong nguyên tác cũng như nhiều tác giả khác, kể cả những tác giả phê phán thuyết Mac-Lê. Còn anh chắc đọc sách trích dịch kèm theo lời bàn ca tụng Mac-Lê. Vả lại ở miền Nam không ai cấm đọc Mác. Trong khi ngoài Bắc cấm đoán nhiều loại sách của phe tư bản. Chúng ta cũng nên suy nghĩ về câu của St Augustin: “je crains l’homme d’un seul livre” (tôi sợ người chỉ biết một quyển sách). Những va chạm cũng xảy ra trong lĩnh vực chuyên môn. Những ngày đầu cộng sản chiếm Đà Nẵng bệnh viện đều do các bác sĩ miền Nam phụ trách, sau đó mới giao lại cho những bác sĩ cách mạng ở trên núi xuống. Song chuyên môn họ rất dở. Y tá lại xầm xì: “tưởng bác sĩ cách mạng giỏi, hóa ra chạy theo học các bác sĩ cũ”. Dân chúng cũng nhận thấy sự kém cỏi ấy, nên Y-tế tỉnh xin Trung ương gửi gấp vào các Bác sĩ Hà Nội, có chút ít chuyên môn, song vẫn còn kém. Một bác sĩ chỉnh hình có du học Đông Đức, đem một bệnh nhân gảy kín và không xê dịch xương ống chân lên bàn mổ để đóng vĩ thép. Sau một hồi tranh luận có cả sự góp ý của bí thư bệnh viện, mới đưa bệnh nhân đi bó bột. Tôi nhớ trong một buổi họp với các bác sĩ Hà Nội mới vào, có một bác sĩ xưa kia là bác sĩ riêng cho Võ Nguyên Giáp, từng đi thực tập giải phẫu tim ở Balan (ông nầy trên đường vào Saigon chỉ ghé thăm Đà Nẵng), đã dặn dò chúng tôi: “các anh có che chở các bác sĩ cách mạng về chuyên môn, họ mới che chở các anh về chính trị”. Mãi một năm sau, khi các bác sĩ cộng sản học được nhiều kỹ thuật tân tiến, nhất về giải phẫu, Ủy ban quân quản thành phố đưa tất cả các bác sĩ, dược sĩ lưu dung lên Hòa Khánh, dự một lớp học tập chính trị dài hạn. Cùng học có cả kỹ sư, giáo sư trung học lưu dung. Cán bộ giảng dạy lên lớp buổi sáng, buổi chiều thảo luận nhóm. Chừng 10 bài căn bản, chắc là do viện nghiên cứu Mac lê Hà Nội soạn ra. Toàn là những luận điệu một chiều nhàm chán hoang tưởng. Vừa mệt vừa buồn ngủ. Nhất là cảm giác bị nhồi sọ, bị áp đặt tư tưởng. Ngột ngạt, lo buồn, sợ sệt. Tiếp theo là những buổi phê, tự phê, tố giác. Chỉ có một lần tôi thử biện luận với thuyết trình viên khi ông cứ lập luận là phải đi theo qui luật tiến hóa Mac đề ra. Tôi nói: “phải bẻ qui luật mới tiến hóa. Trong chăn nuôi, các nhà nghiên cứu thấy rằng con bò sau khi ăn cỏ, phải bỏ ra nhiều giờ để nhai lại. Họ bèn xay cỏ cho mịn và thêm vào các kích thích tố cần thiết rồi cho bò ăn. Quả nhiên bò không nhai lại nữa Chúng tiêu thụ một lượng cỏ gấp đôi và sản xuất sửa cũng gấp đôi. Khi công bố cuộc khảo cứu ấy các nhà nghiên cứu đã đặt tên bài báo là: “Les ruminants ne se ruminent plus” (loài nhai lại không nhai lại nữa).

Song đúng là biện luận với đầu gối. Thành trì của chân lý Mac lê không cho phép một nghi vấn nào hết. Cuối cùng là viết kiểm điểm. Viết cho hết từ lúc bé cho đến lớn, thành phần xã hội và gia đình, không được dấu một chi tiết. Bài kiểm điểm dài hàng 10 trang giấy. Ấy thế mà cán bộ không hài lòng phải viết lại từ đầu. Đảng cộng sản muốn đọc hết tư tưởng của giới trí thức để dễ bề khống chế. Cải cách ruộng đất, trong thực chất là nhắm triệt hạ từng lớp trí thức kháng chiến và biến họ thành cầu an, sợ sệt dễ bảo. Thành phần trí thức lúc đó là ai: đó là con cái nhà giàu, địa chủ. Đánh vào địa chủ, là gom luôn vào đó con cháu họ, những trí thức tư sản đã dốc lòng kháng chiến, song với tính chất cố hữu là có óc phê phán, khoa học. Những gì cộng sản cho là xác tín, sự thật đều được trí thức bấy giờ đem ra ra mổ xẻ, phân tích, nghi ngờ. Nhân văn giai phẩm và l’excommunié của Nguyễn Mạnh Tường đã chứng minh điều đó. Người Cộng sản cũng bịa ra lắm điều khôi hài. Rêu rao là tự do tín ngưỡng, song có điều luật cho phép tự do truyền bá tư tưởng duy vật chống tôn giáo, song các hoạt động truyền giảng đạo đều bị cấm chỉ. Trong một buổi học tâp duy vật biện chứng, thuyết trình viên đã hùng hồn chứng minh là không có Thượng đế. Tôn giáo đã lừa bịp ru ngủ con người trong ảo tưởng. Khi đến phần thảo luận tôi hỏi thuyết trinh viên: – Xin lỗi chung quanh ông có gì? – Dĩ nhiên chỉ có vật chất, nào bàn ghế, nhà cửa, anh, tôi, không khí. – Tôi lại nghĩ rằng chung quanh chúng ta có nhiều bài hát du dương (hội trường đều cười). Vâng nếu ông có một máy thu thanh, ông sẽ nghe vô số bài hát đang lãng vãng quanh ông. Thượng đế cũng thế. Nếu tâm hồn ông có một rung cảm nào đó, một máy thu thanh siêu nhiên, ông sẽ tiếp nhận được Thượng đế. Ông kể một số nhà khoa học không tin ở Thượng Đế, nhưng không có nhà khoa học chân chính nào lại nói là không có Thượng đế, vì đối tượng của khoa học là vật chất, vật chất là những gì cân, đo, đong, đếm được. Thượng Đế không ở trong phạm trù ấy. Cho nên nhà khoa học chân chính chỉ có thể nói: “Thượng Đế không phải là đối tượng nghiên cứu của tôi. Tôi không có một luận cứ nào để nói là không có Thượng Đế”. Vả lại thống kê cho thấy hơn 90% các nhà khoa học tin ở Thượng đế. Gagarine khi bay trên quỷ đạo không gian tuyên bố là không thấy Thượng Đế đâu cả. Ngược lại Aldrin, phi hành gia Mỹ lại choáng ngợp trước sự uy nghi, huy hoàng cuả vũ trụ, khi bay quanh mặt trăng, chờ các bạn đổ bộ xuống mặt trăng trở về, đã thốt lên: “tôi đã thấy Thượng đế”. Sau nầy Aldrin đã vào tu viện. Phát triển khoa học xem như là mở rộng tầm nhìn của con người về chiều ngang (extension en largeur). Những câu hỏi về số kiếp con người, ý nghiã cuộc sống, bản chất của lý trí, nói chung băng khoăn triết học và siêu hình, là phát triển về bề sâu (extension en profondeur) của con người. Có một thời lạc quan khoa học cho rằng phát triển về bề ngang sẽ soi sáng bề sâu. Song tự bản thân khoa học đã lúng túng. Khám phá được một bí mật thì muôn ngàn bí mật khác xuất hiện. Khoa học chẳng biết bao giờ dừng chân. Còn bề sâu con người lại sâu thêm thăm thẳm. Thời Socrate 100 vấn nạn, thời Newton hàng vạn, thời Einstein, hàng triệu. Tôi góp ý: – Mỗi trường phái triết học chỉ khiêm nhường tiếp cận một khía cạnh nào đó của sự thật. Mà chỉ tiếp cận thôi, chứ không nắm. Còn mấy ông Cộng sản cho mình đã nắm được tòan bộ sự thật. Sự thật nắm được trong tay là đã ngột ngạt và chết mất rồi. Sự thật là một chuổi dài tìm kiếm không ngừng. Anh Hoạt còn nhớ trong truyện “Bác sĩ Jivago” của Boris Pasternak, khi Lara khóc bên linh cửu của Jivago đã nói: “huyền nhiệm của sự sống, huyền nhiệm của sự chết, bí ẩn của tài ba, của cái đẹp, của sự trần trụi, chúng ta biết. Còn những chuyện nhỏ nhặt như là xây dựng lại thế giới nầy, chúng ta tiếc là chúng ta không làm được” (le mystère de la vie, le mystère de la mort, l’énigme du talent, de la beauté, de la nudité, nous les connaissons, tandis que les petites choses, comme la reconstruction de ce monde, nous regrettons beaucoup, nous ne pouvons pas la faire).

Vâng, những ai đã tiếp xúc sự sống, đều thấy đó là vấn đề bao la bí mật. Mỗi nhà văn, mỗi nhà nghệ thuật choáng ngợp trước sự sống, đã cố diễn tả trung thực để truyền đạt lại cho chúng ta một khía cạnh nào đó của sự sống. Cộng sản đã chẳng hiểu gì về sự sống lại dám cải tạo nó. Chả trách họ gây nên những tội ác tầy trời, và giết đi sự sống. Tôi có hỏi anh Hoạt cái gì đã thúc đẩy anh biện luận với Cộng sản, thành trì của cuồng tín. Anh nói: “Thấy người ta đi vào con đường sai nhầm mà hậu quả là khổ đau cả một dân tộc mà mình không đưa ra lời can ngăn là vô trách nhiệm. Dù họ không có nghe thì mình cũng đã có phần đóng góp xây dựng rồi. Vả lại nếu mọi người đều im lặng, xuôi theo, thì bức tường Bá Linh đâu có đổ, hệ thống XHCN Liên xô và Đông Âu đâu có cáo chung”. Ngày sang Canada, gặp một bạn cũ, ngạc nhiên sao mình ở tù lâu thế. Khi mình nói lý do anh ta bảo: “đã biết Việt cộng là thế rồi, cải chi cho khổ”. E.M.Remarque đã chẳng nói trong The night in Lisbon: “Khi thế giới còn những bọn dã man tàn bạo, mà mình CÒN khả năng chống lại, mà không chống thì đó là tội ác”. Còn thái độ mỗi người trước cường quyền ta có thể mượn lời của André Gide: “que chacun suit sa pente mais en montant (Mỗi người theo đường dốc của mình, song phải đi lên). Đi lên là nói lên sự thật, là phản tỉnh nếu lỡ đã bị CS phỉnh phờ. Xem như J.P.Sarte đã từng bênh vực CS với B. Russel, nhưng đã phản tỉnh, và hăng hái giúp người tị nạn thuyền nhân Việt Nam. Cũng như nhóm trí thức họp ở Nữu Ước hối hận đã nhúng tay vào máu khi bênh vực CS trước kia. Thánh Gandhi là người trì chí tranh đấu cho độc lập Ấn Độ, có ý chí và căn bản đạo lý cao, mà vẫn sợ có khi mình mình yếu đuối không dám nói lên sự thật, trước cường quyền Anh, nên đã cầu khẩn Thương Đế: Xin Thương Đế cho con nói lên sự thật Trước mặt người hung ác, uy quyền.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Advertisements

One thought on “THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG TỪ 30.4.1975

  1. Cơn đại hồng thủy 30/4/75 làm cả miền nam vn cuốn theo bảo táp,vật đổi sao dời.HÀNG TRĂM ngàn gia đình tan nát,chia ly,,,các anh em thương phế binh vnch chịu đau đớn không thua gì viên chức sĩ quan đi tù đày cải tạo chết,mất tích…..40 năm chưa có giải pháp nào cứu giúp hàn gắn Đọc lại lịch sử càng thương cảm bội phần nạn nhân cuộc chiến,,,Những nhân tố “xã lũ dòng thủy điện làm ngập tràn đê điều làng mạc” giờ đã ra người thiên cổ(từ trong nước hay quốc tế),,,trách nhiệm bây giờ dồn lên các nhà hảo tâm,các vị chức sắc tôn giáo thiện nguyện,các học giả có lương tâm kiến thức tất cả chỉ biết đóng góp phần nhỏ tiếng chuông cảnh tỉnh nhân ái,,,Đời người cứ trôi qua,,mọi văn minh cám dổ xa hoa tiếp diễn hững hờ mặc cho vết tích chiến tranh còn trên đỉnh tháp buồn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s