VACCINE THẾ HỆ MỚI

Flu.svgThân gửi Bio-VN và Quí Thân hữu:

Việt Nam dùng vaccine thế hệ cũ nên tỷ lệ phản ứng cao- VnExpress Gia Ðình – Sức Khỏe

Khi đọc bản tin trên, chúng ta không khỏi băn khoăn về sự cần thiết thay đổi sản phẩm vaccine cổ điển vẫn là tiêu chuẩn cho y tế phòng ngừa ở Việt Nam và đang xảy ra cho việc chủng ngừa.  Các tiến bộ nhanh chóng của ngành sinh học, đặc biệt là miễn dịch học, trong thập niên qua đã đặt những nền tảng quan trọng cho vaccin thế hệ mới an toàn, hữu hiệu và nhiều ứng dụng, không chỉ phòng ngừa (preventive vaccine) mà đang tiến đến trị liệu những bệnh hiểm nghèo như ung thư (cancer vaccine). Chúng ta cần mau chóng khai triển kỹ nghệ sinh học cần thiết này để tạo sản phẩm vaccine an toàn, và quan trọng hơn nữa là đáp ứng những đe doạ của nhiều dịch bệnh dự đoán trong tương lai ở Việt Nam do thay đổi khí hậu và môi trường. 

Tiêu biểu cho vaccine thế hệ mới là kỹ nghệ tạo vỏ virut (thường được gọi là VLP hay virus like particle) của những tác nhân gây bệnh dùng làm kháng nguyên (antigen) để tạo vaccine bằng phương pháp cloning. Trên nền tảng này, vaccine VLP sẽ rất an toàn vì không còn lây nhiễm do nhân mang yếu tố di truyền DNA hay RNA như vaccine cổ điển. Cũng như virut, VLP gồm các nhân tố kháng nguyên (epitope) có thể kích thích hệ miễn dịch tạo các kháng thể đặc hiệu ngăn ngừa và loại trừ virut khi cơ thể bị lây nhiễm; tuy nhiên, khác với virut, VLP có cấu trúc kháng nguyên đơn giản và đặc hiệu hơn, nên giảm thiểu những kích hoạt miễn dịch không cần thiết có thể dẫn đến nguy cơ cho người được tiêm chủng.

Những ưu điểm của phương pháp tạo vaccine thế hệ mới VLP so với các vaccine hiện hành gồm:

– Độ an toàn cao: vì kháng nguyên VLP không còn DNA/RNA của nhân như nói trên. Ngoài ra, phương pháp sản xuất protein tái tổ hợp (recombinant protein) của VLP an toàn hơn phương pháp dùng trứng trong việc sản xuất vaccine cổ điển vì trứng có thể bị nhiễm khuẩn và tạp chất gây phản vệ. Về tổ chức, việc tạo VLP rất an toàn và có thể thực hiện trong điều kiện thông thường của phòng thí nghiệm, không đòi hỏi những tốn kém cần độ an toàn cấp P3 hay P4 cho virut H5N1, HIV và nhiều loại virut gây bệnh khác.

– Tạo kháng thể mạnh và chuyên biệt: các kết quả nghiên cứu và thử nghiệm đã cho thấy VLP có thể kích hoạt hệ miễn dịch tạo kháng thể rất mạnh và thường không cần dùng tá dược (adjuvant) như vaccine cổ điển. Lý do vì một phần VLP sẽ bị phân giải, và điều này sẽ giúp hệ miễn dịch tạo kháng thể đối với toàn diện kháng nguyên virut (gồm linear và tertiary epitopes). Tránh tá dược cũng sẽ giúp giảm thiểu các phản ứng viêm dẫn đến tổn thương và nhiễm trùng.

– Có thể sản xuất trong thời gian ngắn hai tháng: Dùng phương pháp cloning và một số tế bào dòng (cell lines), việc tạo VLP được thực hiện nhanh trong hai tháng hoặc ngắn hơn, thay vì sáu tháng hoặc một năm như các vaccine cổ điển hiện nay. Ưu điểm này rất cần để đáp ứng kịp thời trường hợp dịch bệnh đột phát, và sự biến đổi gen (mutation) rất nhanh của các siêu vi. Các dịch bệnh gần đây đã xảy ra quanh năm, thay vì chỉ trong mùa Đông như trước kia, và còn được tiên liệu sẽ tiếp tục với tầng xuất cao do biến đổi khí hậu. Phương pháp VLP cũng cho chúng ta trực tiếp xử dụng tác nhân gây bệnh tại các địa phương ở Việt Nam, thay vì dùng vaccine nhập được làm từ bệnh phẩm nước ngoài sẽ ít hiệu năng vì tính sai biệt của kháng nguyên, thêm vào đó là tốn phí cao hơn.

– Giá sản xuất thấp: các định giá về thiết lập phòng thí nghiệm và cơ sở sản xuất VLP cho thấy phương pháp VLP có giá thành thấp nhiều lần so với hệ thống bào chế cổ điển; dùng cloning cũng sẽ có hiệu năng tạo kháng nguyên rất cao, trên mười lần so với dùng trứng. Vì đặc tính kinh tế ít tốn kém và nhanh chóng trên, kỹ nghệ VLP được coi là kỹ nghệ vaccine tương lai cho những nước đang phát triển và thường bị các  bệnh dịch đe doạ.

Dựa trên những thành quả có tính ứng dụng quan trọng này, phương pháp tạo VLP cho các chủng loại virut gần đây đã được nghiên cứu và khai triển bởi nhiều trung tâm và các trường đại học trên thế giới. VLP đã được tạo thành công cho nhiều siêu vi khuẩn gây bệnh ở người từ thông thường đến loại rất nguy hiểm gồm H1N1, H5N1, Adenovirus, HIV, Hepatitis C, Respiratory Syncytial (RSV), Varicella Zoster (VZV), Ebola, Chikungunya, ở gia súc như  EV71, Picornavirus và sẽ còn nhiều hơn nữa trong tương lai. Trước đây, phần lớn các hãng dược ít đầu tư vào sản xuất vaccine vì họ rất ngại những rủi ro có thể xảy ra, nhưng với độ an toàn cao của các vaccine thế hệ mới, cùng với các đại công ty dược đã sản xuất vaccine VLP như Merck, GlaxoSmithKline (đã thương mại hoá vaccine ngừa ung thư tử cung dưới tên Gardasil/Cervirax), hiện đang trổi lên nhiều hãng nghiên cứu và sản xuất vaccine VLP gổm Novavax Inc., Medicago, LigoCyte, Compass Biotechnologies, VLP Co., TechnoVax, Oxford Expression Technologies, AgilVax, VBI/Epixis v.v. Nhiều thử nghiệm trên sinh vật và lâm sàng ở người của những hãng này đã cho kết quả tốt đẹp, an toàn và cho việc thương mại hóa trên thị trường trong tương lai gần.

Việc tạo sản phẩm sinh dược (biologics) như vaccine VLP đương nhiên đòi hỏi nhiều qui trình thực hiện rất chuyên nghiệp. Sau sản xuất kháng nguyên VLP, chúng ta cần những phương tiện dược khoa để biến thành dược phẩm (drug formulation) và tổ chức thử nghiệm lâm sàng để đánh giá ứng dụng cho tập thể. Trên thực tế có nhiều công nghệ vaccine mới và các kỹ nghệ này đều có tương quan mà chúng ta cần kết hợp để tối ưu, gổm VLP, phương pháp di truyền ngược (reverse genetics), hệ thống tế bào (cell expression base), DNA vaccine, peptide tổng hợp (synthetic peptide), tế bào tua (DC based vaccines), vaccine đường ruột (mucosal vaccine), tổng hợp từ thực vật (plant vaccine) và  adjuvants chuyên biệt dùng LPS, CpG, RNA v.v.. Chúng ta cần có kế hoạch tiêu chuẩn và qui mô toàn diện, việc làm tự phát và đơn lẻ không thể mang lại kết quả có phẩm chất và an toàn cho xử dụng, ngoài ra thường tạo những cạnh tranh không cần thiết. Trên thực tế Việt Nam đã có một truyền thống về khám phá và sản xuất vaccin với sự đóng góp của danh nhân thế giới như Alexandre Yersin và mạng lưới quốc tế gồm các viện Pasteur, IVAC Nha Trang; một kế hoạch liên kết những chương trình nghiên cứu ở các đại học với những cơ sở này rất là cần thiết để đi đến việc sản xuất vaccine thế hệ mới trong tương lai. 

Là một kỹ nghệ cao, phần thiết yếu nhất của vaccine thế hệ mới không chỉ là kỹ thuật và sản xuất, Việt Nam cần định hướng và đào tạo một đội ngũ khoa học có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm về các nghiên cứu miễn dịch học hiện đại. Để tạo được vaccine an toàn và hữu hiệu, chúng ta cần có khả năng đánh giá những kiểu hình kháng nguyên (epitopes), Sự phản ứng của vaccin, từ đó tiên liệu được hiệu năng cũng như tác dụng phụ có thể nguy hiểm của vaccin. trở ngạinêu trên gây thiệt mạng đồng loạt cho 3 em nhỏ tiêm chủng viêm gan B cần được giải thich thông suốt dựa trên những dữ kiện và cơ chế khoa học: Các kháng nguyên, do bị biến đổi, đã gây sóc phản vệ từ hiệu ứng kháng thể IgE trên tế bào gây dị ứng mast cells, basophile? hoặc các kháng nguyên này đã kích hoạt mạnh mẽ tế bào T gây rối loạn và gia tốc các tăng tổng hợp cytokine (thường được gọi là cơn bão cytokine) dẫn đến phản ứng viêm cấp tính? hoặc viêm cấp tính xảy ra do phản ứng phức hợp từ kết tủa của kháng nguyên và kháng thể ?… Trên thực tế, trở ngạivẫn có thể xảy ra cho vaccin thế hệ mới, như đã xảy ra với Gardasil, tuy độ nguy hại sẽ thấp hơn và chúng ta luôn cần sự thận trọng tối đa (Click here: Ðầu Xuân nói chuyện Sinh học: Thí nghiệm Mab TGN412 – Diễn dàn Sinh học Việt Nam). Tóm lại, chúng ta cần ưu tiên xây dựng một ngành y học giỏi, thay vì sản phẩm vì chỉ khi nào chúng ta giải thích được lỗi kỹ thuật, thì chúng ta mới giải quyết được sự việc đáng tiếc xảy ra. 

Theo thống kê, trong hai năm qua đã có gần 20 trẻ nhỏ thiệt mạng vì tiêm chủng vaccine ở Việt Nam. Qua tin tức và báo chí, chúng ta rất tiếc chỉ thấy những giải thích chung chung cho tai nạn và mất mát lớn lao này. Cộng đồng khoa học trong nước đang đứng trước một trách nhiệm tinh thần và trách nhiệm xã hội cấp thiết để thực hiện việc hiện đại hoá công nghệ vaccine ở Việt Nam nhằm mang lại những sản phẩm an toàn và phương thức giải quyết hiệu quả tốt đẹp để giảm thiểu tối đa những tai nạn tiêm chủng hàng năm cho y tế dự phòng bảo vệ cộng đồng dân chúng.

Vài ý tưởng tâm huyết chia xẻ và mong sẽ được sự phản hồi và hướng dẫn của quí Thân hữu.

Xin cám ơn và chào thân quí.

Thái      

tài liệu đọc thêm

 https://en.wikipedia.org/wiki/Vaccine

Trẻ em phải chủng ngừa theo lịch trình

 HBV: Viêm gan siêu vi B; (mới sinh 2-4-6 tháng và 10-13 tuổi)

Tet: Bệnh uốn ván;  (từ 2-4-6 tháng; 4 tuổi , 15-17 tuổi)

Diph: Bệnh bạch hầu;  (từ 2-4-6 tháng; 4 tuổi , 15-17 tuổi)

Pert: Bệnh ho gà; (từ 2-4-6 tháng; 4 tuổi , 15-17 tuổi)

Polio: Bệnh viêm tủy xám; (từ 2-4-6 tháng; 4 tuổi)

HIB: Viêm màng não do Hemophilus influenzae B; (từ 2-4-6 tháng; 12 tháng)

Pnm* (loại 7vPCV) : Viêm màng não do Pneumococcus (trẻ em); (từ 2-4-6 tháng)

Pnm* (loại 23vPPV): Viêm phổi do Pneumococcus (người lớn 64 tuổi);

ROT: Tiêu chảy do Rotavirus từ (2-4 tháng)

MMR: Bệnh sởi, Quai bị và Sởi Đức; (12 tháng- 4 tuổi)

Men: Viêm màng não do Meningococcus

Var: Bệnh thủy đậu; (18 tháng-13 tuổi)

Flu: Bệnh cúm

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s