Tưởng Niệm Tướng NGUYỄN KHOA NAM

99c5fd8a535c4f84965f30e61caf5efcCHIẾC NÓN SẮT

Tháng 10 năm 1969, sau khi mãn khóa Hạ Sĩ Quan Ðồng-Ðế Nha-Trang, cộng thêm ba tháng của khóa học chuyên môn về sửa chữa quân xa ở Trường Quân Cụ Gò Vấp Sài Gòn, tôi được trở về quê nhà đáo nhận nhiệm sở ở căn cứ Ðồng-Tâm, cách thành phố Mỹ Tho gần 10 cây số, trong đơn vị Tiểu-Ðoàn 7 Tiếp Vận thuộc Sư-Ðoàn 7 Bộ Binh. Tôi may mắn được biệt phái qua Văn Phòng Tổng Thanh Tra của Sư-Ðoàn để đi thanh tra hàng năm 16 binh đoàn trực thuộc. Lúc bấy giờ, tình hình an ninh các xã ấp, quận lỵ thuộc tỉnh Ðịnh-Tường rất rối ren. Tin tức từ các chiến trường lớn nhỏ dồn dập báo về với bao sự chết chóc, bị thương và tổn thất. Ðúng vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng mỗi lúc càng gia tăng trầm trọng đó, một vị cứu tinh đã mang niềm vui đến cho Sư Ðoàn, Ðại Tá Nguyễn Khoa-Nam, Lữ-Ðoàn Trưởng Lữ-Ðoàn 3 Nhảy Dù, được Bộ Tổng Tham Mưu điều động về giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh khu chiến thuật Tiền-Giang, thay thế cho Thiếu-Tướng Nguyễn Viết Thanh được thăng tiến làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, Quân khu IV.

Tin tức được loan truyền nhanh chóng, từ tiền tuyến đến hậu phương, từ các đơn vị tác chiến, đến những quân binh chủng ngành trực thuộc Sư Ðoàn, đều tỏ vẻ lạc quan thấy rõ, với sự lãnh đạo mới của người hùng oanh liệt, thuộc binh chủng thiện chiến Nhảy Dù. Song song đó, một lệnh đặc biệt lần đầu tiên trong quân sử Sư Ðoàn, với công văn được gởi đi khắp các đơn vị trong Sư-Ðoàn có nội dung chính:

– Tất cả quân nhân các cấp luôn luôn phải mang súng và đội nón sắt khi di chuyển bất cứ ở nơi nào. Ngoài ra, xe Jeep đều phải tháo mui để trần.

Bấy lâu, người quân nhân Sư Ðoàn đội nón lưỡi trai bằng vải ka ki xanh khi đi ra ngoài, còn chiếc nón sắt chỉ sử dụng lúc ban đêm đi trực hay canh gác tiền đồn mà thôi! Phải công nhận, trọng lượng chiếc nón sắt của Mỹ mà bên trong còn có thêm một chiếc nón lót nhỏ hơn bằng nhựa, cùng với những dây da và vải để điều chỉnh khi đội chụp lên đầu không phải là nhẹ, nếu đội không quen thì sẽ cảm thấy nặng nề khó chịu lắm! Nhưng nay lệnh của Tư Lệnh Sư-Ðoàn ban ra thì ai mà dám không thi hành? Cho nên, từ Ðại Tá Tư Lệnh trở xuống đến hàng binh, bắt buộc quân nhân các cấp đều phải kè kè bên khẩu súng lục, hay cây súng M16 và chiếc nón sắt to tướng bên cạnh, lúc làm việc cũng như khi đi ra ngoài. Hiện tượng mới lạ nầy không chỉ thấy được trong căn cứ quân sự Ðồng-Tâm, mà còn ngay cả trong thành phố Mỹ Tho nữa! Kể từ những tháng ngày cuối năm 1969, nhan nhản trên các đường phố và nơi chợ búa, người dân thành thị thấy lính Sư Ðoàn 7 đầu đội nón sắt, vai đeo súng trường rất là lạ mắt. Bất chợt, người ta bỗng có cảm giác lo sợ, tưởng chừng như tình thế đang trong giai đoạn nguy ngập đến nơi vậy! Trên các trục lộ của đường phố, những chiếc xe Jeep “lùn“ quân đội mui trần loại mới M151 A1 và A2 của Mỹ, vừa được thay thế loại xe Jeep “cao“ của Nhật đang di chuyển, vài quân nhân mặc áo giáp, nai nịt súng đạn, đầu đội nón sắt ngồi trên đó trông thật oai vệ. Có xe còn gắn anten cần câu máy truyền tin dài được xếp cong xuống 90° đưa ra phía trước, làm tăng thêm phần uy lực của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa.

Từ khi Ðại-Tá Nguyễn Khoa-Nam về làm Tư Lệnh Sư-Ðoàn 7 Bộ-Binh, không khí sinh hoạt trong tất cả các đơn vị đều có phần nghiêm trọng hơn. Lệnh cấm trại 100% được ban hành, việc ứng chiến gác trực đều tăng cường thêm quân số. Bấy lâu, từ quan quyền cho tới người lính phần đông đều quen thói đi trễ về sớm, vắng mặt trong giờ làm việc để đi ăn nhậu vui chơi hay về với gia đình, giờ tình trạng nầy bỗng nhiên phải chấm dứt nên họ cảm thấy gò bó rất khó chịu. Ngay đến cả Tư Lệnh Phó và Tham Mưu Trưởng làm việc gần văn phòng Tư Lệnh cũng phải làm việc và nghỉ đúng giờ, vì Tư Lệnh Sư Ðoàn thường hay đi kiểm soát đột xuất bất kể giờ giấc.

Cấp bậc quân hàm của tôi lúc bấy giờ chỉ là Trung-Sĩ, nhưng tôi hân hạnh được làm thuộc viên của những sĩ quan cao cấp trong Văn Phòng Tổng Thanh Tra, mà Trưởng Ðoàn là Ðại Tá Nguyễn Văn Lý người Huế, cùng với bốn Trung Tá trong bốn ngành Tiếp Vận là Công Binh, Quân Nhu, Quân Cụ và Truyền Tin. Thỉnh thoảng, tôi được nghe các sếp kể chuyện về những đặc tính của vị Tư-Lệnh của mình, tôi lấy làm thích thú và đầy lòng cảm phục, vì rất hiếm có cấp chỉ huy nào kỷ luật, liêm chính, thương lính và tận tụy xả thân vì Tổ Quốc như vị Tướng tài ba Nguyễn Khoa-Nam.

Chỉ thời gian ngắn về Sư-Ðoàn 7 Bộ Binh, đến tháng 11 năm 1969, Ðại Tá Nguyễn Khoa Nam được vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức tại mặt trận với những chiến công hiển hách, giải tỏa được áp lực nặng nề của địch quân và vãn hồi an ninh cho các khu chiến thuật do ông phụ trách, tạo đuợc niềm tin cho quân nhân các cấp trong Sư-Ðoàn. Thỉnh thoảng, ông bất thần đáp trực thăng đi điểm danh tập hợp quân số ở những tiền đồn xa xôi hẻo lánh, thị sát các đơn vị tiền phương ngoài mặt trận, đôn đốc tinh thần chiến đấu của anh em binh sĩ và nghiêm trị nhiều trường hợp vi phạm kỷ luật. Có những đêm khuya, ông can đảm liều lĩnh đi tuần tiểu trên các trục lộ nguy hiểm mất an ninh, có chiến xa “con rùa“ loại V.100 chạy bằng bánh xe cao su thật to hộ tống, khiến cho những quân nhân tùy tùng của ông phải nhiều phen khiếp đảm.

Là một sĩ quan thuộc khóa III Thủ Ðức, ra trường vào tháng 10 năm 1953, ông tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng. Tướng Nguyễn Khoa Nam đã từng oai hùng tung hoành dưới hiệu kỳ “Thiên Thần Mũ Ðỏ“, ở những chiến trường khốc liệt trên khắp bốn vùng chiến thuật. Ðến khi về làm Tư Lệnh Sư-Ðoàn 7 Bộ Binh, ông vẫn luôn hoạt động tích cực không kể ngày đêm. Tháng 10 năm 1971, ông được thăng cấp Chuẩn Tướng thực thụ. Năm 1972, ông được vinh thăng Thiếu Tướng nhiệm chức và tháng 10 năm 1973, ông được thăng cấp Thiếu Tướng thực thụ.

Trong thời gian là quyền Tư Lệnh, ông thường ngụy trang đi kiểm soát tình trạng canh gác của các đơn vị. Có một lần vào ban đêm, ông đích thân một mình lái xe Jeep loại thường, không mang quân hàm hai sao Thiếu-Tướng trên cổ áo. Khi xe ông vừa đến cổng chắn của đơn vị tôi, anh lính gác ngồi trong đồn canh ăn mặc lè phè, áo không bỏ trong quần, đầu không đội nón sắt, chân lại mang dép, cây súng M16 và dây đạn thì lại để ở một góc. Anh nầy thấy xe Jeep pha đèn vội bước nhanh ra ngoài, không hỏi mật khẩu mà cũng không cần biết đến xe của đơn vị nào vào tìm ai, thì đã vội vàng mở cổng cho xe chạy vào. Liền sau đó, anh lính gác nầy đã phải một phen điếng hồn xanh mặt mà nhớ đời, khi biết được người “tài xế“ lái xe chính là Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam. Thế rồi chẳng những anh ta đã bị ký phạt tù quân, mà luôn cả TrungTá TiểuÐoàn Trưởng của tôi cũng bị khiển trách liên đới, bởi thiếu kiểm soát chặt chẽ thuộc cấp của mình. Vì nhu cầu tình hình chiến sự ngày càng khẩn trương, đến tháng 11-1974, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật tại Cần Thơ.

Nói tới vị danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, đã có hơn 30 năm qua được người ta nhắc đến quá nhiều, nhất là vào cuối tháng tư mỗi năm. Nào là dòng dõi quí tộc, độc thân với bản tính âm thầm ít nói, ăn chay niệm Phật, cuộc đời binh nghiệp cũng như biệt tài điều binh, luôn quan tâm đến thuộc cấp, được đặc cách thăng cấp tại chiến trường, sự thanh liêm của một cấp chỉ huy và cái chết tự kết liễu cuộc đời khi vận nước đen tối không lối thoát.

Cùng với các vị Tướng Lãnh Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã ghi đậm một nét son cho trang cuối của quân sử Việt Nam Cộng Hòa. Nhân cuối tháng tư, tôi xin thành kính đốt nén hương tang cho những anh hùng đã một đời tận trung báo quốc, những đấng trung liệt đã từng là niềm hãnh diện cho Quân Dân miền Nam, cho mọi thế hệ, cho mọi thời đại của giòng sử đấu tranh nước Việt.

Nguyễn Khoa Nam đã an giấc ngàn thu … Lưu lại nhân thế bao thương tiếc, tiếc thương cho người lính năm xưa hiện đang ở khắp bốn phương trời. Riêng kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất đối với người quân nhân thuộc Sư-Ðoàn 7 Bộ Binh vào cuối thập niên 60, trong đó có tôi là chiếc nón sắt.

Tác giả  Huỳnh Quốc-Minh

Mời thưởng thức nhạc phẩm Cái Nón Sắt của NS Hoàng Trọng

Trong phim Người Tình Không Chân Dung

http://lyric.tkaraoke.com/15170/Nguoi_Tinh_Khong_Chan_Dung.html

 

Mời thân hữu đọc tiếp thơ

MAI TÔI CHẾT CỜ VÀNG XIN ĐỪNG PHỦ

Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (cựu tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/QLVNCH) đã trối trăn:

„Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến đưa tôi lần chót. Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước, khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước, nên khi tôi chết già yêu cầu đừng phủ Quốc Kỳ lên quan tài tôi, vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy“.

Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ

Xác thân này đâu chết cho quê hương?

Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!

Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!

Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.

Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!

Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,

Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.

Bao năm trời bao nhiêu người trai trẻ,

Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.

Khi nằm xuống bạn nào đã cần gì?

Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước,

Ta giờ đây đã tàn bao mơ ước!

Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ…

Ngày về quê càng lúc càng xa mờ.

Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng,

Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!

Xót thân này khi chết bỏ lại đây!

Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai?

Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.

Lê Quang Lưỡng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s