NGÔN NGỮ HUẾ TRONG DÒNG HỌ QÚY TỘC

imagesNgười Huế ảnh hưởng đời sống qua chín đời Chúa, mười ba đời Vua. Trước năm 1975 người miền Nam gọi Huế là cái rốn Văn hóa. Tuy nhiên người Huế dùng nhiều thổ ngữ và phát âm nghe khó hiểu. Thí dụ như: ông = ôn; mẹ = mạ; cô = o, mụ; bựa qua = hôm qua; bể mõ = vỡ mồm; chộ = nhìn; chờn =: cái giường; trữa cươi = giữa sân; u trốt = u đầu, chi rứa, làm răng… nhiều từ nghe thật lạ.

Câu chuyện thật chàng sinh viên xứ Quảng ra Huế học, đến thăm gia đình người bạn, tới cổng nhà một con chó chạy ra sủa, nhe hai hàm răng nhọn muốn cắn, nhưng bà mẹ người bạn, lên tiếng vô đi ” không răng mô” hai hàm răng như vậy mà nói không có răng, ai hiểu nổi?

Thời gian vừa qua, cựu giáo sư Võ Văn Dật bút hiệu Võ Hương An, có gởi cho trang khoahọcnet.com  bài „TIẾNG HUẾ MỘT NGOẠI NGỮ“  cựu giáo sư Võ Văn Dật người Huế, tốt nghiệp Đại học Sư Phạm và cao học về ngành Sử. Những bài viết của tác giả xuất hiện trên nhiều báo và Đặc San ở hải ngoại. Mới đây, trong Kỷ Yếu Hội Ngộ Phan Châu Trinh và Hồng Đức 30 Năm Xa Xứ có đăng bài Hai Thành Phố và Con Sông Xưa, viết về mối tương quan giữa Hội An và Đà Nẵng qua một con sông đã bị vùi lấp, là sông Cổ Cò. Để chúng ta hiểu về những danh từ nói trại đi hay thổ ngữ, thổ âm của người Huế, từ giới quý tộc cho tới giới bình dân, và cách đặt tên lót của dòng họ Nguyễn. chúng tôi phỏng vấn ngắn với cựu giáo sư Võ Văn Dật, hy vọng giúp tôi cũng như nhiều độc giả hiểu thêm về ngôn từ xứ Huế:

NQĐ: Kính chào giáo sư Võ Văn Dật.

Thưa Gs. Ngôn ngữ VN nói chung và Huế nói riêng, rất phong phú, tuy nhiên có một số thổ ngữ khó hiểu, nhưng các từ điển tiếng Việt không giảng giải rõ, xin Giáo sư vui lòng cho độc giả biết thêm một số thổ ngữ, thổ âm ở Huế?

VVD : Xin chào anh Nguyễn Quý Đại.

Tôi không dám nhận là biết nhiều để giảng giải như anh nói đâu. Chỉ biết chút chút thôi, biết tới mô, nói tới đó. Phải công nhận Huế có nhiều thổ âm, thổ ngữ rất đặc thù. Điều này cộng thêm với giọng Huế thuộc về một âm vực trọ trẹ khó nghe đối với các miền khác của đất nước, đã dẫn đến hậu quả – như người ta thường nói, là tiếng Huế khó nghe khó hiểu. Xin báo tin vui đến quí vị và anh Đại rằng từ năm 2001, tại Nam California, Bs Bùi Minh Đức đã cống hiến cho học giới cuốn Từ điển Tiếng Huế, dày 531 trang khổ lớn, biên sọan công phu, do nhà Tâm An xuất bản. Như thế, từ nay có thắc mắc chi về tiếng Huế, đã có tác phẩm của Bs Bùi Minh Đức sẵn sàng giải đáp.

Cuốn từ điển dày hơn 500 trang, nhưng cũng chưa hẳn là đủ. Điều đó cũng nói lên tính phong phú trong ngôn ngữ của miền đất quê hương em nghèo lắm ai ơi (Phạm Duy) này. Nhân anh yêu cầu tôi cho biết thêm một số thổ ngữ Huế, tôi xin kể một vài chuyện cười về tiếng Huế, do chính tôi kinh nghiệm. Người Huế thường biến âm từ ô sang u, từ ôi sang uị Tôi có 7 năm sống chung với anh em Quảng Nam Đà Nẵng  bị tập trung „cải tạo“ trên núi; vì vậy, Huế và Quảng đôi lúc không gặp nhau trên ngôn ngữ nếu không rời cái vỏ địa phương của mình. Ngày 30 Tết, được lệnh phải vệ sinh lán trại sạch sẽ để ăn Tết. Sau khi quét gom lá rụng thành một đống cao, tôi chỉ đống lá và nói với anh bạn cùng tóan,” Sẵn sàng rồi đó, anh đút nó đị”. Ý tôi nói anh ta đốt đống rác đi, vì tôi biết anh có hộp quẹt. Anh ta trợn mắt,” Đút cái chi Anh biểu tôi đút cái đầu tôi vô đó hả?” Một lần khác, nhân giải thích một điều gì đó mà anh bạn vẫn không chịu thông cảm, tôi tức quá, la lên, “Nói chuyện với anh chán quá, thà nói chuyện với đầu gúi của tui còn hơn.”

Anh ta hỏi, “Đầu gúi là cái chỉ”. Tôi đưa chân ra, chỉ cái đầu gối — mà có nơi ở Huế gọi là trốt cúi — thì anh ta cười ngặt nghẽo, “Cái đó mà gọi là đầu gúi thì mụ nội ai mà hiểu được.” May mà tôi không dùng hai chữ trốt cúi. Lại một lần thấy con rắn lãi mập và dài bò ngang trước mặt, tôi la lên “Đưa cái đùi, đưa cái đùi cho tui!” Ý tôi muốn nói anh bạn đưa giúp khúc cây để tôi đập con rắn, một nguồn thịt bổ dưỡng lúc đó. Nhưng dễ giận chưa, anh ta cười ha hả, nói “Anh cũng có hai cái đùi như tôi, sao không dùng mà mượn đùi tôi làm chỉ” Tôi đớ người ra, chợt thấy cái hố của mình trong ngôn ngữ.

Theo tôi nghĩ, đó mới chỉ là khó hiểu vì lạ tai. Có khi là những từ quen tai với miền khác, nhưng người Huế dùng theo kiểu bóng gió thì hiểu cũng mệt. Người Huế, cũng như một số vùng khác, gọi hạt là hột, ví dụ hột lúa, hột mè, hột đậu, hột trai. Hai bà già cùng xóm nói chuyện với nhau như thế này:

– Nghe nói con Chanh có người đi ngó rồi mà còn chưa ưng.

– Xì, bày đặt, có hột có hạt rồi mà còn làm bộ.

Không ưng chừ thì mai mốt đem lên tra mà cất.

Đi ngó hay đi dòm, trong ngữ cảnh (context) này nên hiểu là đánh tiếng, ngỏ ý. Tra là chỗ cao và kín trong ngôi nhà rường, nhà dùng để cất lúa, các vật quí, các vật ít dùng hay không dùng nhưng vất đi thì tiếc.

Trong mẫu đối thọai ngắn đó, một bà nói rằng cô Chanh trong xóm có người ngõ ý muốn cưới nhưng cô ta chưa bằng lòng. Bà kia đáp lại rằng cô Chanh đó đã quá lứa, quá tuổi xuân thì rồi, không bằng lòng bây giờ, mai kia trở thành gái già thì chỉ có nước xếp xó mà thôi. Chỉ có trái đã già thì mới có hột. Bà già kia dùng chữ hột theo lối ẩn dụ, bóng bẩy.

NQĐ: Thưa giáo sư câu chuyện trên thật hấp dẫn, Quảng Nam và Huế cách nhau đèo Hải Vân mà chúng ta chưa hiểu nhau hết, huống gì ở xa. Năm 1971 tôi ra Huế học và dạy cho các con ông Vĩnh Quan nhà ở gần hồ Tịnh Tâm, thời gian đầu nghe các từ Mệ, Mụ và thổ âm khác không hiểu mô tê chi hết, nhiều năm sau mới có thể hiểu được. Thưa giáo sư phát âm có ảnh hưởng theo nước uống, và món ăn? các vùng Truồi, Sịa, nói chung vùng ngoại ô Huế nghe giọng nói nặng hơn? phần lớn người Huế thích ăn cay xé miệng như bún bò, cơm hến?

Gs. VVD: Thưa anh Đại, tôi không nghĩ như thế. Các con tôi nói Huế rặt nhưng lại không thích ăn cay. Một cô con dâu của tôi không phải Huế mà ăn cay còn hơn tôi nữa. Người ta thường cho rằng giọng nói mỗi miền khác nhau là do phong thổ, do nguồn nước mỗi miền khác nhau. Quê tôi là thôn An Ninh, xã Hương Long, huyện Hương Trà, nơi có chùa Thiên Mụ và dòng sông Bạch Yến chảy qua. Trong thôn có hai cái xóm nhỏ là Xóm Bàu và Xóm Guốc nói với giọng khác các xóm khác. Cho đến nay, tôi thấy chưa có một giải thích hợp lý nào về nguyên nhân ảnh hưởng đến sự khác nhau về giọng nói của các miền cả.

NQĐ: Thưa giáo sư Nguyễn Hoàng là người khai sáng sự nghiệp chín đời Chúa ở xứ Đàng trong, nhưng gia đình chúa Tiên phải chịu cảnh phân ly con cháu mang chữ lót khác nhau như Nguyễn Thuận… Nguyễn Hựu.. và phần lớn là Nguyễn Phước…. Đến đời vua Minh Mạng làm một bài Đế Hệ Thi 20 chữ dành cho 20 đời

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Qui Định Long Tường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thụy Quốc Công Gia Xương

Và thêm 10 bài Phiên Hệ Thi, bài thi dưới dành cho con cháu Hoàng Tử Cảnh anh cả của Minh Mạng

Mỹ Duệ Anh Cường Tráng

Liên Huy Phát Bội Hương

Lệnh Nghi TàmTốn Thuận

Vị Vọng Biểu Khôn Quang

Còn thêm 9 bài nữa dành cho dòng họ quý tộc. Thưa giáo sư có quốc gia nào vua chúa Tây Phương có những dòng họ “văn chương” như Vua Chúa Việt Nam mình không ?

VVD: Thưa anh Đại, rất tiếc là tôi không biết có dòng họ vua chúa nào ở Tây phương mà cũng sính “văn chương” như trường hợp Nhà Nguyễn mình không. Nếu anh đặt câu hỏi này với nhà bút khảo đàn anh Lê Văn Lân, tôi tin rằng chúng ta sẽ có câu trả lời lý thú. Theo tôi nghĩ, chắc chắn là có. Dòng họ nào, nhất là những dòng họ quí tộc, bao giờ cũng muốn tạo cho dòng dõi mình một nét đặc sắc nào đó để phân biệt với các dòng họ khác. Theo sự hiểu biết lơ mơ của tôi, thì ông Tây nào mà trong cái tên có mang thêm chữ de, ví dụ Charles de Gaulle, cựu Tổng thống Pháp, hay Jean le Lattre de Tassigny, một tướng lãnh Pháp từng tham chiến ở VN trước 1954, đều có nguồn gốc quí tộc cả.

NQĐ: Thưa Gs, nhà bút khảo bác sĩ Lê Văn Lân gốc Hà Nội, trưởng thành ở Huế học ĐH Y khoa Saigon, hiện nay ở Austin Texas, nếu có dịp tôi sẽ mời Bs Lân lên diễn đàn (BS Lân đã qua đời vì bệnh ung thư). Thời gian qua tôi thường hỏi Bs Lân về các từ Y khoa và Hán Văn. Thưa Gs. về dòng họ Tôn Thất có phải phát xuất từ nguồn gốc hậu duệ của 9 đời Chúa cùng họ Nguyễn Phúc (Phước) với vua Minh mạng được nhà vua đặt là Tôn Thất. Con gái của Tôn Thất là Tôn Nữ?

VVD: Vâng, quả đúng như vậy. Tôn Thất cũng thuộc về Hòang tộc, là hậu duệ của các chúa Nguyễn. Mỗi vị chúa lập ra một chi nhánh gọi là Hệ. Cái gì cũng vậy, ở mức độ nhỏ thì đơn giản, nhưng khi đã phát triển thành qui mô lớn thì phức tạp. Lúc đó, cần có sự tổ chưc hợp lý thì mới nắm vững tòan bộ cơ cấu. Họ Nguyễn cũng thế. Vua Minh Mạng là người nhận thức được điều đó nên năm 1823 đã ban hành những qui định nhằm hệ thống hóa lại giòng họ để thứ tự, kỷ cương đâu ra đấy. Theo đó, không những vua đã đặt ra Ngự Chế Mạng, Danh Kim Sách để đặt tên cho các ông vua tương lai của Nhà Nguyễn, Ngự Chế Mạng danh thi để đặt tên cho dòng họ, Đế Hệ Thi và Phiên Hệ Thi để đặt chữ lót làm dấu hiệu nhận ra thế thứ anh em, trên dưới – như anh đã trình bày qua hai bài thơ điển hình vừa nói – mà còn đưa ra qui định cơ bản để phân biệt sự thân sơ, gần xa trong dòng họ.

Như ta đã biết, năm 1558, chúa Tiên Nguyễn Hòang mang bầu đòan thê tử, bà con dòng họ và tướng tá quân lính trung thành lên đường vào Nam lập nghiệp mới. Như vậy, cùng một gốc từ làng Gia Miêu ngọai trang – tức Quí Hương – huyện Tống Sơn – tức Quí Huyện – ở Thanh Hóa, có hai nhánh của dòng Nguyễn phân ra từ đấy. Vua Minh Mạng cho những người còn ở lại quê nhà mang công tánh Nguyễn Hựu và những người ra đi vào Nam mang quốc tánh Tôn Thất Nguyễn Phước. Về sau, để gọn nhẹ, người ta chỉ còn dùng Nguyễn Hựu và Tôn Thất để gọi mà thôi. Ở đây, cho tôi mở một dấu ngoặc nhỏ: họ Nguyễn nguyên là Nguyễn Văn, đến Nguyễn Kim mới bỏ chữ Văn. Sau khi bà vợ chúa Tiên Nguyễn Hòang trong khi có thai chúa Sãi nằm mộng thấy thần ban cho chữ Phúc, thì họ Nguyễn mới lấy chữ đó làm chữ lót kể từ đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) trở đi.

Giữa những người mang họ Nguyễn Phước lại có một sự phân biệt nữa: Hậu duệ của các chúa Nguyễn thuộc các Hệ Chánh Tiền Biên, đồng lọat mang họ Tôn Thất Nguyễn Phước, nhưng lâu ngày người ta lược đi hai chữ Nguyễn Phước nên chỉ còn Tôn Thất mà thôi. Hậu duệ của vua Gia Long thuộc Hệ Chánh Biên, nếu thuộc dòng vua Minh Mạng thì mang chữ lót theo thứ tự trong Đế Hệ Thi (Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh. . . ), còn nếu thuộc dòng các anh em ruột của vua thì mang chữ lót trong Phiên Hệ Thị

Về câu hỏi con gái của Tôn Thất có phải là Tôn Nữ không, thì xin thưa: đúng như thế. Thực ra, theo qui định chính thức thì phải gọi là Công Tôn nữ thị, nhưng lâu ngày, người ta thấy dài dòng quá, lại khác họ của cha – Tôn thất – nên thu gọn lại thành Tôn Nữ cho sát thực tế hơn.

NQĐ: thưa giáo sư con gái vua gọi Công chúa (như Công chúa Huyền Trân) nếu trở thành cô thì được gọi là “Thái trưởng Công chúa”, con gái của công tử là Công Tôn nữ” con cháu kế tiếp là “Công tằng tôn nữ” xuống một bậc nữa là “Công huyền tôn nữ”; “Lai tôn” ngày nay chỉ còn họ cuối cùng là Tôn Nữ với nghiã là cháu gái?

VVD: Thưa anh, vâng. Con gái của vua gọi là Công chúa. Không cần mang họ, chỉ gọi, ví dụ, Công chúa Ngọc Tú, Công chúa Ngọc Anh, v.v. là đủ. Con gái của Hòang tử, đời thứ nhất (con) gọi là Công Nữ thị, đời thứ hai (cháu) là Công Tôn Nữ thị, đời thứ ba (chắt) là Công Huyền Tôn Nữ thị, đời thứ tư (chút, chiu) là Công Tằng Tôn Nữ thị. Tới ngang đây thì chế độ quân chủ sụp đổ, kiểu cách như thế này không ai hiểu mà theo nữa, việc lập hộ tịch khó khăn v.v. nên người ta không hẹn mà rút gọn lại thành Tôn Nữ thôi. Vâng, Tôn Nữ nghĩa đen là cháu gái.

NQĐ: thưa Giáo sư như vậy quan đại thần Tôn Thất Thuyết thuộc hệ thứ mấy? và có nhiều người cho biết dòng họ Tôn Thất có từ đời nhà Mạc? như vậy có đúng không?

VVD: Mỗi người trong Hòang Tộc phải biết mình thuộc Hệ nào Phòng nào, người ngoài khó biết. Theo một tài liệu tôi đọc được thì quan đại thần Tôn Thất Thuyết thuộc hệ 5 Tiền Biên, là hệ do chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) khai sáng. Chúa Hiền là người lúc đang còn Thế Tử, đã là một vị tướng tài, chiến thắng hải quân Hòa Lan năm 1643, trong một trận thủy chiến ngoài khơi Quảng Nam. Có lẽ do thừa hưởng cái dũng lược này mà ông Thuyết cũng là một dũng tướng.

Tôn Thất chỉ có nghĩa là người thuộc về Hòang Tộc, thuộc về dòng họ đang trị vì. Sự thật, khi một người VN mang họ Tôn Thất, có nghĩa rằng người đó có họ là Nguyễn Phước, nhưng thuộc dòng các chúa Nguyễn đời trước chứ không thuộc dòng của vua Gia Long sáng lập Nhà Nguyễn sau này. Chẳng qua lâu ngày người ta quên mất nguyên ủy của sự việc nên mới xem Tôn Thất là một họ, như các họ khác. Nếu đọc trong sử VN, thỉnh thỏang ta sẽ bắt gặp những cụm từ như Tôn thất nhà Lý, Tôn thất nhà Trần, Tôn thất nhà Mạc, v.v. thì điều đó có nghĩa là những người thuộc Hoàng tộc Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Mạc chứ không gì khác. Bởi các lẽ đó nên tôi không tin rằng dòng họ Tôn Thất có từ đời Nhà Mạc như anh đã hỏi. Có lẽ đây chỉ là sự hiểu lầm về chữ nghĩa của người ta mà thôi.

NQĐ: Thưa giáo sư danh từ gọi là “Mệ” có phải dành riêng cho HoàngTộc thí dụ như gọi ông hoàng Bửu Đảo là Mệ lúc chưa lên ngôi? tôi có thể gọi một người Tôn Thất là Mệ không?

VVD: Thưa anh, danh xưng Mệ có từ đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat (1738-1765) vì Võ Vương sinh nhiều con trai nhưng khó nuôi, chết sớm, nên dùng cách gọi con gái để ma quỉ khỏi làm hại. Người xưa tin rằng con nít sinh ra, nhất là con trai, nếu xinh xắn mà lại mang tên hay, tên đẹp thì dễ làm cho ma quỉ chú ý, ham thích, mà bắt đị. Vì vậy, phải chê xấu, phải dùng tên xấu để gọi ở nhà, còn tên chính thức chỉ dùng khi trưởng thành. Từ đó trở thành nề nếp, hễ con vua cháu chúa, trai, gái gì cũng gọi là Mệ hết. Ban đầu thì người ta dùng chữ Mệ để gọi con của các ông hoàng bà chúa, và dùng chữ Mụ để gọi con của các Mệ, nhưng về sau thì dễ dãi, muốn gọi Mụ hay Mệ đều được cả.

Các ông Hòang khi còn bé thì người ta gọi bằng Mệ, ví dụ vua Bảo Đại là Mệ Vững. Nhưng một khi đã lớn, họăc đã được phong tước thì phải gọi bằng tước hiệu. Do đó, tôi nghĩ, khi Hòang tử Bửu Đảo, dù chưa làm vua, nhưng đã mang tước Phụng Hóa Công ở phủ Phụng Hóa, tức cung An Định sau này, thì anh không thể gọi là Mệ Đảo được.

Theo kinh nghiệm của tôi thì người ta chỉ dùng Mệ hay Mụ để gọi những người thuộc đế hệ. Không ai dùng hai từ đó để gọi những người thuộc phiên hệ (anh em vua Minh Mạng) hay bàng hệ (các Tôn Thất). Tuy nhiên, điều này không cấm chúng ta gọi đùa một cách thân mật bạn bè Tôn Thất của chúng ta vì chẳng có luật lệ nào cấm đóan cả.

NQĐ: Câu hỏi chót, dù giáo sư muốn mai danh ẩn tích khi định cư ở California, nhưng xin hỏi thêm, Gs. từng là Giám Học, và Quyền Hiệu Trưởng trường trung học Hàm Nghi Huế, sau đó lại chuyển ngành làm Thanh tra Giám Sát Viện Vùng I ở Đà Nẵng. Trong thời gian đó Gs. đã sinh hoạt trong Hội Khuyến Học Đà Nẵng với ông Trần Gia Thoại, thân phụ nhà văn Trần Gia Phụng, nhà văn: Duy Lam (California), và hai cố nhà văn Nguyễn Văn Xuân, Phan Du v.v.

sachtudiennhanguyenSau ngày 30.4.1975 giáo sư bị tập trung cải tạo ở trại Tiên Lãnh (Tiên phước, tỉnh Quảng Nam) giáo sư định cư tại Hoa kỳ có phải theo diện H.O? Trong tương lai giáo sư có dự định xuất bản tác phẩm nào để gíup thế hệ con cháu mai sau, có cái nhìn thực tế về lịch sử VN?

VVD: Thưa anh Đại, vâng, HO là cái cầu đưa gia đình tôi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1991. Tôi thích viết về những đề tài thuộc lịch sử và dân tộc học. Hiện có một vài tập đã biên sọan xong, chẳng hạn Lịch sử Đà Nẵng; Huế của một thời; Vua Khải Định, sự kiện và hình ảnh, đã xuất bản, gọi là đóng góp một chút gì đó trong sinh họat văn hóa hải ngọai và giúp ích phần nào cho thế hệ sau.

NQĐ: chân thành cảm ơn giáo sư Võ Văn Dật đã dành thì giờ trả lời, giúp cho riêng tôi học hỏi thêm, và độc giả biết về Ngôn ngữ sử dụng ở Huế, cũng như danh xưng trong dòng họ quý tộc Huế. Kính chúc gia đình giáo sư luôn bình anh và khoẻ mạnh.

Trân trọng giới thiệu tác phẩm mới nhất biên khảo công phu với nhiều hình ảnh  của nhà văn chuyên về sử Võ Văn Dật (Võ Hương An) „TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN“. Theo tác giả bao gồm “chữ, từ, nhóm từ, người và việc được coi là “đặc sản” của Nhà Nguyễn – gồm 9 đời chúa Nguyễn của Đàng Trong (1558-1777) và 13 đời vua Nguyễn của  Việt Nam. liên lạc qua e.mail: huonganvo@hotmail.com

Nguyễn Quý Đại  2013

TIẾNG HUẾ, MỘT NGOẠI NGỮ?

Người bạn đời gốc Bắc (nhà văn Thanh Nam) của nữ sĩ Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau: “Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe , không làm sao chen vào được một câu” (Túy Hồng, Áo Rộng Khăn Vành, TSH 1990, p.14)

Mới nghe qua tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương ?

Sau năm 1954, hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam để tránh hiểm họa đỏ, đã sống rải rác khắp mọi miền dưới vĩ tuyến 17. Và dù ở đâu, dù mấy chục năm đã trôi qua, họ vẫn giữ nguyên giọng Bắc, chỉ thay đổi một vài thổ ngữ cho dễ chuyện trò thông cảm. Còn Huế mình, khi tha hương, đa số đều đổi giọng, hoặc Nam hoặc Bắc, nếu không được khéo léo rặt ròng như Nam, Bắc chính cống thì cũng lơ lớ cho người khác xứ dễ nghe, chứ không còn rặt Huế nữa, ngoại trừ khi nói chuyện trong gia đình hay với đồng hương cơm hến. Bà xã tôi có cô em bạn dì ruột, sinh đẻ ở Huế, sau mới vào theo gia đình vào Sàigòn sinh sống. Dì ấy lấy chồng gốc Bắc 54 . Khi vợ chồng tôi đến nhà thăm, cô nói chuyện bằng giọng Huế rặt, nhưng quay lại nói với chồng hay bà già chồng thì đổi ngay giọng Bắc, rất nhuần nhuyễn, tất tự nhiên.

Việc không đổi giọng của đồng bào miền Bắc di cư và việc đổi giọng của người Huế tha hương, cớ người cho rằng đó là dấu hiệu của mặc cảm về giọng nói. Tôi không nghĩ nghư thế.

Đồng bào miền Bắc tha hương vẫn giữ nguyên giọng nói , không phải do mặc cảm tự tôn rằng đó là một giọng nói hay, không việc gì phải đổi. Mặc khác, người Huế tha hương thường đổi giọng cũng không phải vì mặc cảm giọng nói của mình trọ trẹ khó nghe. Tất cả chỉ là sự đáp ứng thực tế của cuộc sống, sự thích nghi với hoàn cảnh.
Thật vây, việc gì đồng bào miền Bắc phải đổi giọng khi giọng nói ấy không gây trở ngại nào trong đối thoại ? Tại sao mình cứ khăng khăng giữ nguyên giọng Huế trong giao tiếp khiến đồng bào khác xứ không hiểu gì cả, phải tốn công lặp đi lặp lại , giải thích này nọ, mất thì giờ. Như vậy làm sao dễ cảm thông với nhau cho được? Không đổi hay đổi , tất cả chỉ là thế. Không mặc cảm, không gượng gạo. “Thương nhau, thương cả đường đi. . “ Nhà văn Thanh Nam vốn quen với nhỉ, nhé, hộ, gì cơ, làm sao . . . nhưng vì yêu nữ sĩ Túy Hồng nên phải ráng nghe và hiểu hí, nghe, giúp, cái chi rứa, làm răng . . . Còn người dưng nước lả với nhau, lấy gì làm áp lực để buộc người nghe phải hiểu điều mình nói ? Nói mà người khác không hiểu hay khó hiểu là một nhược điểm nên tránh trong giao tiếp. Vì vậy, sự điều chỉnh cho hợp với nhu cầu thực tế là sự thích ứng hoàn cảnh một cách khôn ngoan. Người Tàu tới nơi nào cũng sống được và sống giàu sống mạnh là nhờ tinh thần hội nhập thực tế. Tuy vậy, không bao giờ đánh mất bản chất Trung Hoa của họ. Hòa mà không hùa là thế.
Ai cũng biết Tổng thống Ngô Đình Diệm vốn quê Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nhưng sinh trưởng ở Huế. Nói chuyện với người Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, ông nói tiếng Huế, nhưng khi nói trước công chúng , khi đọc diễn văn hay thông điệp, bao giờ ông cũng dùng giọng Nam. Ông mang mặc cảm trọ trẹ chăng? Hẳn nhiên là không. Trong nước lúc bấy giờ, ông là người có quyền lực nhất, nhưng không vì quyền lực đó mà buộc quôc dân phải nghe cho được giọng Huế khó nghe của ông. Ông hiểu rằng ông cần được hết thảy người dân của mọi miền đất nước nghe, hiểu và thông cảm. Đổi giọng, vì thế là một sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế.

Trong bài viết nói trên, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: “Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách.” Đó cũng là một trong những lý do trong sự đổi giọng của Tổng thống Diệm, trong việc giả giọng Bắc của Hoàng Thi Thơ khi điều khiển các chương trình ca nhạc, của Như Hảo trên đài phát thanh và truyền hình v.v. Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách lại rất dễ lọt lỗ tai. Có lẽ cũng vì cái ưu điểm “giọng nói trong phòng khách” đó nên nhiều chàng trai khác xứ đã lăn xả vào làm rể xứ Huế chăng ??
Tôi không phải là một nhà ngữ học. Vì vậy những điều trình bày ở đây chỉ là những ý kiến rất thô thiển, có tính cách thường nghiệm của một kẻ bình thường. Đứng trước một thực tế là giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu (“ngoại ngữ Huế”) đối với đồng bào các miền khác, có nên chăng thử đặt câu hỏi tại sao? Để dễ thông cảm, ở đây xin tạm hiểu “giọng” là nói về thanh âm phát ra từ người nói, còn “tiếng” dùng để chỉ về ý nghĩa của chữ dùng. Đôi khi trong “tiếng” bao gồm cả “giọng”, chẳng hạn cái tiêu đề của bài này.

Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ, phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc về một âm vực khó nhận ra? Tôi có cảm tưởng như khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp, người Nam đi giọng cao, còn người Huế thì bình bình. Phải chăng cái đặc tính bình thanh này khiến nó trở thành khó nghe? Điều này xin để bàn tay chuyên môn của các nhà âm ngữ học can thiệp.

Riêng tôi, nghĩ rằng nếu miền Bắc và miền Nam có được giọng nói dễ nghe thì họ lại rất khó giả giọng của miền khác; trái lại, nếu âm vực của giọng Huế thuộc loại bình bình, trung tính, khó nhận ra đối với người ngoài, thì cũng chính cái đặc điểm trung tính này đã giúp người Huế có thể giả giọng khắp mọi miền một cách không mấy khó khăn. Giọng Bắc, giọng Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Sàigòn . . . người Huế đều giả được tuốt. Cũng tỉ như nước lả không màu; nước không màu chứa trong ly thủy tinh trong suốt khó thấy; muốn cho người ta dễ thấy thì pha màu và muốn pha màu gì cũng được. Nghĩ sao nói vậy, chứ tôi biết ý kiến này sẽ bị bà con khác xứ chỉnh ngay, vì đã hơn một lần anh bạn người Nam nói với tôi rằng “con gái Huế thì thanh tao, nhẹ nhàng, nhưng tiếng Huế của mấy ông nghe nặng lắm.”

Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi dấu ngã, không phân biệt có “g” với không “g”, “c” với “t”. Nếu từ Quảng Nam trở vào khó phân biệt âm “b” và “p”, đến nổi khi đánh vần thường hỏi nhau “bê bò hay bê phở”, ( ngay cả đến những bậc khoa bảng nói tiếng Tây như gió , cũng có lúc nói âm “bê phở” chưa chỉnh) thì ở Huế, tại vùng quê, và ngay đối với lớp người già sống tại thành phố, người ta không phân biệt sự khác nhau giữa các âm “gi”, “d” và “nh”. Người già và người nhà đều được nói giống nhau

Sau khi làm xong cái nhà, tôi nói chuyện với ông chú già rằng :”Mặc dầu cháu đã tính toán khá kỹ, vậy mà cuối cùng cũng phải mượn thêm của bạn bè mói đủ, vì số chi phí vượt quá mức dự trù.” Ông cụ thản nhiên đáp: “Cháu không nghe à? Ôn mệ mình từ xưa nay đã nói là làm già (làm nhà), chớ có nói làm non mô; mà đã làm già thì hụt tiền thôi.” Rõ ràng là ông cụ chơi chữ theo kiểu Huế, trộn lẫn âm thanh và ý nghĩa để biện luận theo ý mình. Các bạn miền khác hẳn khó mà thưởng thức lối đùa cơt chữ nghĩa theo kiểu đó.

Tôi không biết khi một người ngoại quốc học tiếng Việt thì cái khó nhât đối với họ là gì? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng? Văn phạm chăng? . . . Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi ngã cho đúng đã là một vấn đề. Hồi còn học tiểu học (cấp 1), thầy dạy lớp Nhất (lớp 5) đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng với câu thần chú “Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không”. Ý thầy muốn cho chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu Huyền hay dấu Nặng thì phải đánh dấu Ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu Sác hay Không dấu thì phải đánh dấu Hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải học thuộc lòng. Chẳng hạn:

– nghĩ ngợi thì nghĩ có dấu ngã, nhưng nghỉ ngơi

thì nghỉ lại có dấu hỏi.
– sừng sững và sửng sốt cũng thế.

Thần chú như thế kể cũng linh nghiệm thật,nhưng khi viết chính tả không khỏi tốn công suy nghĩ nên hơi … mệt. Khi đi thi bằng Tiểu học, tới môn chính tả tôi vái trời được gặp một thầy giáo hay cô giáo người Bắc, vì tôi nghiệm ra rằng người Bắc phát âm dấu hỏi dấu ngã rất đúng. Ấy là nhờ gần gũi một ông Hà Nội đang tán bà chị tôi mà biết được điều đó.

Cho đến bây giờ vẫn thế, bộ óc tôi ghi nhận rằng khi phát âm dấu ngã thì người Bắc nói nghe như dấu sắc (ví dụ: nghĩ ngợi -> nghí ngợi) và dấu hỏi nghe như dấu nặng (ví dụ: nghỉ ngơi -> nghị ngơi). Giả giọng Bắc mà không biết qui luật này sẽ đánh dấu hỏi ngã sai bét và lòi đuôi “giả cầy” ngay. Một ông nhạc sĩ nọ gốc Miền Trung, thường nói giọng Bắc trên TV, trước 75 đã có lần bị báo chí diễu là “người nói giọng Bắc hay nhất nước”, cũng chỉ vì không để ý điều đó.

Cách đây non 30 năm, lần đầu tiên khi đọc một cuốn truyện (không nhớ tên) của một văn sĩ người Bắc (không nhớ bút hiệu) đến đoạn đối thoại của một nhân vật nữ người Huế, tôi vừa cười thích thú vừa giận . . . Thích thú vì tác giả viết rất có duyên. Còn giận là giận mấy ông thợ nhà in sắp chữ sai (tôi đinh ninh thế). Ai đời “Thôi em về hí” mà lại sắp thành “Thôi em về hỉ”. Chữ HÍ củ a người ta viết với dấu sắc, đem sửa lại thành HỈ với dấu hỏi, nghe lãng xẹt, vô duyên như ăn cơm hến thiếu ruốc. Trong lời nói thường nhật của người Huế, HÍ là một từ đệm, đóng vai trò như nhé, hay nhỉ trong tiến Bắc và nha trong tiếng Nam . . .

Tôi cứ tự cằn nhằn và giải thích như thế với mấy ông ấn công vô danh, mãi sau mới có dịp biết rằng mình đã nghĩ oan cho họ. Hầu như trong các truyện có dính líu đến ngôn ngữ xứ Huế, chữ HÍ đệm ở cuối câu đều được nghe và viết thành chữ HỈ bởi vì khi người Huế phát âm những chữ có dấu sắc thì người Bắc và người Nam nghe thành dấu hỏi và dấu nặng. Đó là lý do hí biến thành hỉ. Điều đáng nói là sai lầm này cũng hiện diện trong những tác phẩm do chính người Huế viết ra. Lỗi ở ấn công chăng? Lỗi ở thầy cò chăng? Nếu không phải do hai người này thì đó là điều khó hiểu.

Trong bài “Tôi không yêu tíếng Huế” (TSH 1990) tác giả Phàm Phu đã viết rất dí dỏm về những trở ngại do giọng Huế và tiếng Huế gây ra trên chốn giang hồ vì người xứ khác đã nghe khác dấu đi. Chẳng hạn một thiếu nữ Hà thành khi nghe một thanh niên Huế ngõ lời “Cô cho tôi xin một cái bóng (cái ảnh) của cô để làm kỹ niệm . . “ đã ngơ ngác hỏi lại ”Thưa, anh bảo cái bọng gì cơ ạ ?” (p.45). Một ông người Huế khi vào hội tứ sắc đã hỏi làng “ Hôm nay tui biết tui hên nên muốn đánh lớn. Mấy bà có chịu hai cắc (một lệnh) không?” Câu nói này đã làm cho một bà người Nam giận dữ bỏ chơi, vì nghe lầm dấu sắc ra dấu nặng, tưởng ông kia ăn nói xí xọn (p.46).

Thời gian ở tù trong trại lao cải, được sống gần gũi với anh em người Quảng Nam, tôi mới biết giọng Huế đã được nghe như thế nào. Buổi tối, khi tất cả đã vào chuồng, trong khi chờ tới giờ ngủ, anh em thường tụ tập chơi cờ, domino, hoặc kể chuyện vui cho đở buồn. Có lần một anh bảo tôi “Đố anh nói to và đúng câu ‘Đem vở vô buồng, học đủ rồi ra’ ” Dĩ nhiên tôi đáp ứng ngay, dõng dạc rõ ràng. Câu nói vừa dứt, lập tức tiếng vỗ tay và tiếng cười khoái trá nổi lên. Có cả tiếng hô “Hay, hay! Nói tiếp đi”. Tôi ngơ ngác không hiểu vì không tin rằng câu nói đơn giản đó lại có hiệu lực chọc cười đến thế. Ông bạn ăn chung mâm vừa cười vừa cắt nghĩa “Tụi tui nghe người Huế nói dấu hỏi thành dấu nặng, nên mới phịa ra câu đó để chọc anh đó.” À ra thế !

Giọng Huế tuy khó nghe với người khác xứ nhưng rất dễ chỉnh. Trong lúc nói chuyện chỉ cần đổi ”ton” lớ lớ đi một chút là người nghe thoải mái ngay. Tiếng Huế mới là cả vấn đề, bởi vì khi nói đến giọng là chỉ mới đề cập tới hình thức, còn đi vào tiếng là đi vào nội dung, đi vào đời sống văn hóa.

Ngôn ngữ chẳng qua là qui ước về âm thanh do con người phát ra. Vì vậy, cùng một âm thanh phát ra giống nhau nhưng do qui ước khác nhau nên mỗi dân tộc hiểu theo một nghĩa riêng. Tác giả Phàm Phu (TSH, 1990 đã dẫn) kể rằng trong một lần dạo chơi phố xá Bangkok, thấy cô người Thái cực kỳ xinh đẹp , bèn chụp ảnh để kỹ niệm. Vừa đưa máy ảnh lên ngắm, tác giả vừa hỏi ý kiến ông bạn đồng hương làm hướng đạo “Chụp hí?” (chụp nhé) thì mỹ nhân hoảng hốt bỏ chạy, còn tác giả thì bị bạn mắng như tát nước là đồ ăn nói thô tục đối với phụ nữ ngoại quốc. Lý do là trong tiếng Thái, “chụp” có nghĩa là hôn, còn “hí” là “cái ấy” của phụ nữ. Thấy không, hai tiếng Huế vô tội đã trở thành ngôn ngữ sàm sở ở Bangkok.

Hồi còn ở tù tại trại lao cải Tiên Lãnh (Quảng Nam), tôi và một anh bạn đã làm cho mấy phụ nữ Kà-tu bỏ chạy trong cơn mưa. Số là sau một ngày vất vả đốn cây rồi đốt thành than, tổ chúng tôi bốn người quảy bốn gánh than đầy ắp về trại. Nửa đường, trời đổ mưa, bèn ghé vào trong một cái chòi trong rẫy lúa bỏ hoang để tránh cho than khỏi ướt. Một lát, thấy có bốn năm phụ nữ Thượng, người Kà-tu, từ phía suối chạy lúp xúp về chòi chúng tôi, ý hẳn cũng để tránh mưa. Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm … sợ mấy phụ nữ sẽ bị trượt té trên con đường dốc dẫn vào lều đã trở thành trơn trợt, anh bạn và tôi la lên “Coi chừng té, té!” Kỳ lạ, câu nói vừa dứt thì nghe mấy người đàn bà đó ré lên chí chóe gì đó và đổi hướng, không chạy vào lều nữa. Trong tổ, có anh bạn gốc Trà My (Quận miền núi của Quảng Nam) nhẩn nha giải thìch “Nói như mấy ông thì cho vàng tụi hắn cũng không vô núp mưa. “Té”, tiếng Kà-tu có nghĩa là đéo, biết chưa? Lần sau, gặp tụi đàn bà con gái ở đây nhớ đừng có nói bậy như vậy nữa, coi chừng có ngày ăn rựa.” Hú vía !

Giữa các dân tộc, qui ước thanh âm khác nhau dẫn đên ngôn gnữ khác nhau đã đành, mà ngay trong cùng một nước, ngôn ngữ cũng thay đổi theo từng địa phương. Cùng một từ, mỗi miền có thể hiểu một nghĩa khác nhau. Cùng chỉ một vật, một việc, mỗi miền có một lối gọi khác nhau. Chẳng hạn chữ “đồ”. Trong khi miền Nam dùng chữ đồ một cách hồn nhiên để chỉ về đồ vật thì miền Bắc lại dùng nó để chỉ bộ phận sinh dục của phái nữ. Vì vậy, khi thấy ba ông bạn cùng chụp chung một tấm hình (chữ Hán gọi là đô), ông nào ngó cũng chễm chệ, phong lưu, Tú Xương đã ỡn ờ vịnh ngay:

Ba bác chung nhau một cái đồ,. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thôi đừng chê nhỏ lại cười to!
Cùng chỉ một vật đựng thức ăn, ở Bắc gọi bát, Huế gọi là đọi, Nam gọi là tô. Cùng chỉ động tác rơi xuống đất vì bị mất thăng bằng, Bắc gọi là ngã, Huế gọi là bổ, Nam gọi là té. Chữ “địt” Bắc và Nam hiểu không giống nhau. Với người Bắc, “địt” có nghĩa là đéo, là làm tình; còn từ miền Trung trở vô, “địt” chỉ có nghĩ là xã hơi trong bụng ra bằng ngã hậu môn, chữ Hán gọi là trung tiện. Sự đa dạng trong ngôn ngữ của một dân tộc là điều tự nhiên. Bao giờ trong cái chung cũng có cái riêng và thấp thoáng trong cái riêng là hình ảnh cái chung.

Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường dễ làm nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn các miền khác, đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu từ điển tiếng Huế. Trong Ngàn Năm Xứ Huế (San Jose: Thương Huế, 1993) Nguyễn Châu cũng đã sưu tập và giải thích một số nhưng vẫn chưa đủ. Trong TSH 1993, qua bài Thử nói về ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế, tôi đã có dịp khái quát về ảnh hưởng của cung đình trong ngôn ngữ Huế. Điều đáng nêu lên ở đây là: tại sao tiếng Bắc, tiếng Nam không gây trở ngại khi giao tiếp như tiếng Huế? Ngoài giọng Huế khó nghe, như đã nói ở trên, phải chăng vì tiếng Huế quá đặc thù? Phải chăng vì ngôn ngữ Huế ít được phổ biến? Hay vì tiếng Huế khúc mắc khó hiểu? Thiết nghĩ có lẽ do tất cả.

Người khác xứ có thể dễ dàng quen thuộc với răng, ri, mô, tê, rứa, hè, hí vì tính cách phổ thông của chúng, nhưng quả tình khó mà thông cảm với những lối nói đặc thù khác. Tôi có anh bạn người Nam sống ở Huế khá lâu. Trong một buổi trà dư tửu hậu, anh tuyên bố “Bây giờ người Huế nói cách chi tui cũng hiểu”. Nghe vậy một anh bạn khác liền hỏi ngay:

– Thiệt hả ? Rứa thì anh có biết vụ hai đứa con ông Bảy bựa qua ngầy lộn chắc rồi lôi giau từ trong chờn ra trữa cươi đập chắc, một đứa bễ mỏ, một đứa u trốt. Mạ hắn can không được, đứng trữa cươi la làng như ” quạ quạ bẻ bắp ”

Anh bạn người Nam ngẩn tò te, chịu thua. Đây là chìa khóa mật mã:

– bựa qua : hôm qua
– lôi giau : lôi nhau
– ngầy lộn : gây gổ
– chắc : với nhau
– chờn : cái giường
– trữa cươi : giữa sân
– bể mõ : vỡ mồm, giập miệng
– u trốt : u đầu

Mới chỉ có một câu nói ngắn như vậy mà cần phải giải thích đến tám chữ mới làm cho người ta hiểu được, và thực ra, đó mới chỉ là những chữ nặng về hình thức hơn ý nghĩa. Nếu đi vào ý nghĩa thì sự khúc mắc càng thể hiện rõ rệt hơn. Thành ngữ tào lao xịt bộp là một thành ngữ phổ thông của Huế – dùng để chỉ lời nói hay việc làm không đâu vào đâu, không có chủ đích, không có ý nghĩa, kiểu “nghe qua rồi bỏ”- nhưng lại là một thành ngữ khó hiểu vói xứ khác. Trong một cuộc tiếp kiến Toàn quyền Đông Dương, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại) đã làm cho một vị quan lỗi lạc lúng túng khi phải thông dịch câu nói rặt Huế của bà: “Tôi tra rồi, ăn nói tào lao xịt bộp . . .” (Nguyễn Đặng, TSH 1993) chỉ vì ông không phải là người Huế. La ngầy hay ngầy nghĩa là la rầy, nhưng ngầy lộn lại có nghĩa là gây gổ nhau. Mụ nớ có nghĩa là người đàn bà kia (không có ý kính trọng) nhưng khi một người đàn ông được gọi là Mụ hay Mệ, có nghĩa ông ta là người trong hoàng tộc. Thật là rắc rối.

Có một thực tế mà dường như ít ai để ý. Ấy là kể từ ngày chữ quốc ngữ trở thành phổ biến,trở thành văn tự chính thức thay thế cho chữ Hán thì lối viết theo ngôn ngữ miền Bắc là lối viết chính thức nước ta.

Thực vậy, từ giấy tờ hành chánh cho đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học v.v. phổ biến qua hình thức văn tự, hầu như đều được viết theo giọng Bắc. Ngoại trừ một Hồ Biẻu Chánh của hồi đầu thế kỷ và sau này có thêm Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, và hiện nay là Hồ Trường An, là viết văn rặt giọng Nam, còn hầu như tất cả, bất cứ người cầm bút thuộc lãnh vực nào, xuất thân từ địa phương nào, đều viết theo phong thái ngôn ngữ miền Bắc. Bình Nguyên Lộc viết tiểu thuyết theo giọng Nam nhưng khi viết Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt-Nam, một tác phẩm biên khảo, cũng dùng ngôn ngữ Bắc. Số học giả, thi sĩ, văn sĩ người Huế trong nền văn chương quốc ngữ đông biết mấy, thế nhưng không vì vậy mà “răng, ri, mô, tê, rứa, ni, nớ . . . “ được chính thức đi vào văn học như “sao, thế này, đâu, kia, vậy, này, ấy . . .” Đừng nói chi xa, ngay tập TSH bạn đang cầm trên tay là một bằng chứng cụ thể, và ngay bài viết này cũng thế.

Ngôn ngữ miền Bắc hầu như đã trở thành lối nói và viết chính thức, có lẽ do truyền thống lập quốc và Nam tiến. Trong âm nhạc, ta cũng thấy hiện tượng tương tự. Khi hát tân nhạc, tất cả các ca sĩ đều hát theo giọng Bắc, bất kể người miền nào. Nhiều danh hề đã chọc cười khán giả một cách thành công khi hát tân nhạc theo giọng Nam. Ban AVT nhờ có Vân Sơn đệm giọng Huế mà trở thành hài hước có duyên. Từ thập niên 60, một số các nhà văn nữ gốc Huế quả có đưa tiếng Huế vào tác phẩm nhưng cũng chỉ có tính cách mắm muối thêm duyên – kiểu như Vân Sơn đệm giọng Huế trong ban AVT – chứ chưa tạo được sắc thái địa phương như Hồ Biểu Chánh hay Hồ Trường An.

Giọng bắc giọng Nam dễ nghe, tiếng bắc là ngôn ngữ chính thức trong sinh hoạt văn hóa và xã hội, đó là lý do tại saođồng bào miền Bắc không gặp trở ngại khi đối thoại với người khác xứ. Trái lại, bên cạnh giọng nói thuộc về một âm vực khó nghe, người Huế lại nói và viết không giống nhau. Thêm vào đó, Huế lại quá phong phú thổ âm thổ ngữ, cả về số lượng cũng như ý nghĩa. Tất cả những cái đó đã biến tiếng Huế thành ngoại ngữ. Muốn hiểu rành “ngoại ngữ” đó, chỉ có cách hãy sống với Huế. Ai không tin, thử hỏi mấy ông rễ Huế, biết ngay.

Võ Hương-An

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s