SÀI GÒN 30.4.1975

bo chayThật ra việc Hoa Kỳ bán đứng hai đồng minh VNCH và Đài Loan, để đổi lấy sự liên kết và trao đổi thương mại với Trung Cộng qua chuyến công du của cặp Nixon-Kissinger từ năm 1972,  bị ông Daniel Ellsberg tiết lộ cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ hơn 40 năm về trước.
Vì không thể giấu giếm mãi một sự kiện lịch sữ đã bị phanh phui, do đó ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bó buộc đã phải cho giải mật (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan trước 30-4-1975.. Sau đó, National Security Archive tại George Washington University công bố thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai, càng làm cho hầu như cả thế giới (từng là đồng minh hay chiến hữu của Hoa Kỳ) nhìn ra sự thật phũ phàng, qua việc siêu cường số 1 đứng đầu khối tự do, vì quyền lợi cá nhân  bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự hòa hoản và giao thương với Trung Cộng. Xét cho cùng, việc làm trên chẳng qua cũng chỉ là để xác nhận một cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, với hy vọng chấm dứt những thị phi bất lợi về chữ tín của Mỹ trên thế giới, nhất là trong giai đoạn Hoa Kỳ rất cần nhiều đồng minh mới lẫn cũ, khi có ý định trở lại Châu Á-Thái Bình Dương hiện nay, chắc là để cùng Trung Cộng tiếp nối những giao kết bí mật còn dang dỡ của bốn mươi mươi năm về trước ?
Tài liệu trên làm lộ bộ mặt thật của Kissinger, qua nhiều hồi ký  xuất bản nay không còn giá trị vì nhiều điều viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Tóm lại Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ trên hết, bất chấp sự phản bội những đồng minh cũng như  giấu giếm và lừa đảo cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ. Do ác tâm trên, nên từ đầu thập niên 1970, Hoa Kỳ vì cần bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô, nên nhẫn tâm loại Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Tàu đỏ vào thay thế vị trí này, đồng thời còn  công nhận chỉ có một nước Tàu  và Đài Loan chỉ là một tỉnh của Trung Cộng cho đến ngày nay vẫn không thay đổi.
Tài liệu cũng cho thấy  Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa để mặc cộng sản Bắc Việt chiếm trong lúc Mỹ-Việt đang liên minh quân sự chống kẻ thù chung VC. Quan trọng nhất là Mỹ  cam kết với Tàu đỏ sẽ phủi tay và bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng trong vài thập niên. Tài liệu còn ghi rõ vào dịp giáng sinh năm 1972, Bắc Việt rất hổn loạn và đang chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B-52 bỏ bom ở Hà Nội, nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì VC  đầu hàng. Nhưng vì  thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom trong lúc chiến thắng đang gần kề, thay vào đó lại ký hiệp định ngưng bắn 28-1-1973 tại Ba Lê như một văn kiện bán đứng Miền Nam VN cho cộng sản đệ tam quốc tế !
Vì biết chắc Mỹ đã bán đứng đồng minh cho mình, nên đầu tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng xua hải quân cưởng đoạt quần đảo Hoàng Sa của VNCH. Hải Quân Miền Nam  chiến đấu thật oanh liệt và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo nhưng dù  nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu, hải quân Mỹ vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan nghiệt trên Biển Đông.Trận Hải Chiến Hoàng Sa giữa VNCH & TC 1974   http://www.youtube.com/watch?v=54PCp2Eny74
Chính vì  có ý định phủi tay bỏ Nam VN, nên cuối năm 1974, tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lại, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Ðó là chiến dịch ‘ Talon Vice ‘, sau được đổi thành ‘Frequent Wind ‘.Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót, trở thành ‘đầu gà đít vịt ‘, là do sự bất đồng ý kiến giữa đại sứ Mỹ Martin và phái bộ quân sự Hoa Kỳ (Dao). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ, để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do tướng Smith, trưởng cơ quan Dao, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ, trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận tổ chức trong đêm giáng sinh 24-12-1974.
HbTin này lập tức được loan truyền rộng rải, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hai tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu và đặc biệt là không ít tướng-tá ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do đại sứ Martin tới giờ phút chót, vẫn còn ngu xuẩn, cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nên nuôi ảo vọng thương thuyết, khi chấp nhận điều kiện ‘ đổi ngựa ‘ hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc Mỹ bị VC bịp xã láng, nên phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975, khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả cuốn và vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sĩ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.
Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp, tùy theo hoàn cảnh để thi hành như 1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại phi trường Tân Sơn Nhất.

2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận.

3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Ðằng.

4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.
Sau khi quân đoàn I và II tan rã, ngày 1-4-1975 Dao đã cho thành lập một cơ quan điều hợp di tản, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.
Ngày 3-4-1975, Dao lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, Dao tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịnh không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên Dao phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về Dao, sau đó trực thăng lớn mới chở ho ra chiến hạm.
Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của QLVNCH và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Ðoàn 18 BB, Lữ Ðoàn 1 Dù, Thiết đoàn 5 kỵ binh, Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại VN.
Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi, báo hiệu nguy cơ miền Nam sắp mất, nên Dao đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu toà đại sứ cho đốn cây cổ thụ trước sân, để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.
Ngày 16-4-1975, tướng Home Smith chỉ huy trưởng Dao, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đình, đều phải hồi hương.
Ngày 24-4-1975 thời tổng thống Trần văn Hương, do tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội lhắp nơi, nên đại sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequeent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ VNCH, nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày, để chờ phương tiện xuất ngoại.
Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời VN, ngày 4-4-1975, Dao lại cho thực hiện chiến dịch ‘ Baby Lift ‘, di tản 250 em mồ côi VN tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ, bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của Dao, với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này, bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh, thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng , nên đâu biết ai là thủ phạm gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.
Tại Subic Bay-Phi Luật Tân, ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải quân Hoa Kỳ, vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài  tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Ðộ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến, tới chờ lệnh tại biển Nam Hải, ngoài hải phận Nam VN.
Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của QLVNCH gồm Sư đoàn Dù, Sư đoàn TQLC, các Liên Ðoàn Kỵ Binh, Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư đoàn 18, 5, 25, 22, các Sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị QG.Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Học Viện Sĩ quan Cảnh sát, khóa sinh HSQ-Binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, Lực lượng Ðịa Phương Quâm-Nghĩa Quân, Cảnh sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự vệ.. phối họp với Không quân, Hải quân và Quân đoàn IV, gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội cọng sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày.. trong nổi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác, thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc, vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.
Ðêm 28-4-1975, Nguyễn Thành Trung con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong không quân VNCH. Thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội VC, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê văn Trí, tư lệnh KQ cọng sản miền bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Ðà Nẵng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thanh Sơn (Phan Rang), do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Băc Việt gồm Từ Ðể, Nguyễn văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nửa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tưởng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đả làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, tướng Smith ra lệnh giới nghiêm Dao 24/24, trong khi đó tại tòa đại sứ, Matin vẫn bất động.
Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1973 và những lời hứa của Nixon, từ các thơ riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã xử dụng. Biết Hoa Kỳ  tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước.
ttnguyenvanlong3_0811103Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại Dao có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiến hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn, ba quả bom con heo tiểu nguyên tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH  sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các chuyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.
Trong lúc những lãnh đạo chính trị của Miền Nam đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ ‘ G’ ngày ‘ N’ tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn rối loạn vì hơn mấy chục sư đoàn cọng sản Bắc Việt áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu,. tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả, không biết đâu mà mò. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhớn nhưng khắp bốn hướng, quân lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Ðoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Ðoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân.. và đặc biệt là Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
Nhưng giữa lúc người lính bộ đang lội trong biển máu thù, thì trên trời gần hết những phi công anh hùng của QLVNCH đã ngoảnh mặt phủi tay ra đi không trở lại, hoặc bay về đất Thái hay hướng thẳng biển đông. Khiến cho phi trường Tân Sơn Nhất thêm hiu quạnh thảm thê với xác người nằm bất động, lẫn lộn với quân trang quân dụng, cơ phận máy bay, vũ khí và những lính quèn hèn mọn, giờ phút cuối vẫn ở lại tử thủ với phi trường!
Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết, chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K, cùng với hai khu trục A1 Skyraider, không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Kiên cường nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh KQ, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH.. mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất, ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu, nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút, sáng ngày 29-4-1975, khi chiếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh máy bay và bốc cháy trên bầu trời.
9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn  hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp ‘ 4’ trong chiến dịch di tản, nhưng bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng tổng thống VNCH Dương văn Minh, có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Kissinger  gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Ðây cũng là thời gian, Martin gơi ý nhờ TT. Dương văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa
Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như đàn em kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người  phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối, nên các tài xế xe bus đều nghĩ việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Ðể cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus.. nhưng  quá trễ.
Ba mươi tám năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế toà đại sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người, đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó hầu như người nào cũng giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đã sẵn sàng phanh thây bầm xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.
Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Ðế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nửa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm.. cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đi hết rồi.
Ðể thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 ‘ chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.
15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Ðoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.
Nhưng cuộc di tản  gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bi trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, còn trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.
Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH6 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ.VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tốì 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai củng cố chóng con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.
Sài Gòn chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm thét đinh tai điếc óc, nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Ðây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền nam VN trong thế kỷ XX.
Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lai xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính.. xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngủ, bọn nhà giàu bất lương, bọn trí thức cà chớn một thời phá nát miền Nam.. cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cọng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét.. như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi tám năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh, mà người Sài Gòn  cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng, mà thực chất là chốn địa ngục có thật, do quỹ vương Hồ Chí Minh mang từ Nga Tàu về đày đọa đồng bào.
Ðúng 9 giờ tối đêm 29-4-1975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau cảnh đời trong biển lửa.
Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản gặp rất nhiều khó khăn vì đen không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn, Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Ðốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao bị phá hủy. Ðể nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.
3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 người chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sàng, chính Tổng thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của toà đại sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Ðại Uý Thủy Quân Lục Chiến tên G.Berry lái.
Tù phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh tòa đại sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Ðúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm , từ lúc tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ, cũng chấm dứt từ đó.
Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì tòa đại sứ và Dao ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Ðể hoàn thành công tác trên, người Mỹ  sử dung trực thăng của Sư đoàn 7 Không quân và Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào Dao tại phi trường Tân Sơn Nhất.
Tuy người Mỹ đả chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển, để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu mỹ kim nhưng cũng đã cứu vớt đươc nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.
Ba mươi tám năm qua rồi, ngày nay chắc gì còn ai nhớ tới chuyện cũ, kể cả những đắng cay đoạn trường mà tất cả quân cán chính VNCH và đồng bào Miền Nam hứng lãnh trong địa ngục Cộng Sản có thật trên quê hương mình!

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2013.
Mường Giang

UnbenanntNhạc sĩ Tô Hải: Chính ngày 30 tháng 4 là ngày đã giải phóng cho tôi khỏi kiếp nô lệ

 …cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng Hòa, “ông” naỳ, “ông” kia…chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!…Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?

Ngày 30/4/2013 Nhật ký mở lại (lần thứ 45)

NHÂN 30 THÁNG 4, TÔI TUYÊN BỐ …

…Tưởng rằng mình đã hết ý để nói về cái ngày “tưởng rằng vui” 30 tháng 4 này. Lý do:

Năm nào mình cũng có viết về nó với những ý mới.

Nhớ lại suốt 5 năm về già vui thú với bờ-nốc-bờ-niếc, mình đã từng vạch trần ra cái âm mưu áp đặt bằng võ lực lên toàn thế giới (mà thành công một bước mới là trên mảnh đất chữ S), một chế độ mà tất cả mọi con người đều bị biến thành một “trại súc vật”, sống thế nào? làm thế nào? vui buồn, yêu, ghét ra sao?… thậm chí cả chết kiểu nào cũng đều do một nhóm người ưu tú nhất mang tên Đảng Công Sản quyết định!

1- Mình còn nhớ mình đã ghi lại cái cảnh ông Hoàng Tùng, Bí thư TƯ đảng, Trưởng Ban Tuyên Huấn dặn dò bọn văn nghệ sỹ chúng mình khi thẳng đường bay thẳng vô Nam: Bằng một cử chỉ hung hăng, ông hùng hồn giơ hai nắm đấm trước ngực đấm đấm vào nhau mà nói: ”Cuộc chiến đấu ai thắng ai hãy tạm dừng ở đây! Chúng ta cần có thời gian để củng cố lực luợng, cải tạo bọn ngụy và…nếu có sức chúng ta chẳng ngại gì không ….tiến thẳng tới New Delhi!”

Ai cầm cờ vào dinh Độc Lập? chuyện này mà nay vẫn còn chưa trung thực, tranh công, phản bác nhau mãi…

2- Mình cũng là người đã “sợ” cái chuyện trắng trợn tuyên bố và kể công lao to lớn của mấy ông trùm cộng sản khi huênh hoang với toàn thế giới “Chính nhờ có họ, mà một nuớc nhỏ mà đã đánh thắng 3 đế quốc to” trong khi đó chỉ cách đó không lâu họ vẫn xưng xưng: ”Không có chuyện Miền Bắc xâm lược miền Nam”, Và họ cũng không muốn hoặc không đủ khả năng hiểu nổi câu đối đáp của vị Thủ Tướng Thái Lan là “Nước tôi hân hạnh vì một nước nhỏ mà KHÔNG PHẢI ĐÁNH NHAU VỐI MỘT NƯỚC TO NÀO…” nghĩa là gì v.v… và v.v…

3- Mình cũng đã vạch thẳng thừng ra cái sự “miền Bắc được giải phóng” cả về sinh hoạt lẫn tư tưởng bằng những câu chuyện: miền Bắc như hàng triệu cái lò xo lâu nay bị đè ép, bỗng bung ra và không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Bằng những câu chuyện sớm “tự cải tạo” từ cách suy nghĩ đến cách sống và làm ăn, người miền Bắc mà 99,9% đều có người thân hy sinh cho cách mạng, đều có người là đảng viên, lao đầu vào những thứ phồn vinh giả tạo như những con thiêu thân,..kệ ai cao đạo giáo dục “cảnh giác, giữ vững lập trường”!
Trong khi ở miền Nam, người ta cấm “nhạc vàng nhạc ngụy”, đốt sách ngụythì miền Bắc, oang oang ngày đêm những Giao Linh, Khánh Ly,…sách “phản động đồi trụy” cứ ùn ùn kéo ra Bắc, làm mê say cả mọi lớp người lâu nay chỉ biết ăn có món văn nghệ tuyên truyền cho Đảng!

4-Mình cũng vạch ra cái ngu cực kỳ do tính “kiêu binh hỗn xược” của bọn tưởng rằng mình thắng cuộc thì muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm khi vừa tuyên bố “Mọi người Việt Nam đều là người chiến thắng” thì ngay hôm sau đánh lừa cả gần triệu sĩ quan và cán bộ cao cấp “ngụy” mang 20 ngày gạo “đi học tập” rồi giam không án không hạn tù trong các trại gọi là cải tạo khắp nơi thâm sơn cùng cốc rừng sâu nước độc suốt cả chục năm trời hoặc hơn…khiến không ít người bỏ xác nơi nào chả ai biết hoặc nếu sống sót trở về thì có đi H.O cũng chỉ còn là những thân xác ốm yếu vì bị đọa đầy cho thân tàn ma dại! Kèm theo là cả chục triệu những con người là vợ con, người thân,.. của họ bị mang hận thù sưốt năm này qua tháng khác vì bị cưỡng bức đi kinh tế mới, hoặc đành liều mạng vượt biên, người đến nơi nào đó làm “quê hương thứ 2”, người bỏ xác nơi đại dương, đến cái xương cũng không còn đường về quê mẹ!
Trong khi đó, tối tối, con em họ phải tập trung để “bị” học hát: ”Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” hoặc “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ”!
Mình đã chửi thẳng những thằng “bên thắng cuộc” cho là “các cháu Miền Nam khoanh tay, cúi đầu chào khách là….ảnh hưởng của chế độ phong kiến” (!?) cũng như bọn chủ chương phổ biến những bài hát chiến thắng huênh hoang là những bọn ngu xuẩn và hoàn toàn không có một xu tâm lý học!

Riêng về mặt văn hóa văn nghệ, đã hơn một lần mình đã nói thẳng cái “hơn hẳn” của văn nghệ sỹ, trí thức miền Nam chân chính. Đó là:
a- Họ hoàn toàn tự do, muốn viết gì thì viết, muốn theo trường phái nào thì theo, hoàn toàn tự do sáng tác kể cả viết những gì mà chính quyền không mong muốn …
b- Họ được tự do tiếp xúc với đủ mọi thứ văn hóa nghệ thuật nước ngoài kể cả với những tác phầm của phe cộng sản.
c- Đa số đều thành thạo 1 hoặc 2 ngoại ngữ giúp họ sớm tiếp cận với những gì là văn minh tiến bộ nhất của loài người. Trái lại văn nhân nghệ sỹ miền Bắc, trừ những người theo Tây học trước 45, hầu hết đều… mù ngoại ngữ nên chỉ biết Shakespeare, Balzac,…qua bản dịch …Còn những tác phẩm hiện đại thì chỉ “nghe mấy anh văn nghệ có quyền” phán rằng là “Camus, Sartre …nó phản động thế này ,…thế kia…” nên rất chi là nhục nhã khi tự mình tổ chức ra cái hội nghị lên án “văn hóa thực dân mới” giữa cái đất Saigon đầy những trí thức am hiểu, sành Triết Tây lẫn những fan của Sartre của Camus!

Điều tự sỉ nhục này mình đã lấy làm cái cớ để động viên cả nhà Phạm Duy còn bị kẹt lại Saigon (mà trực tiếp đến với mình là Phạm đình Chương và Duy Quang) là: “Hãy tìm đường mà cuốn xéo nhanh kẻo có ngày mất mạng vì phản ứng với cái bọn “kiêu binh văn hóa cộng sản” này”. Và tất cả họ đã nghe theo mình …
Cái ĐƯỢC và MẤT của 30 tháng 4, Nguyễn Khải, trên giường bệnh đã nói thẳng không ngại ngùng (vốn có theo bản tính thận trọng) là: Miền Bắc đã cho tôi ĐỘC LẬP, Miền Nam đã cho tôi TỰ DO…..Còn tớ thì laị:
CHÍNH NHỜ MIỀN NAM NÀY MÀ MÌNH ĐÃ TÌM ĐƯỢC Ý NGHĨA CỦA CẢ ĐỘC LẬP LẪN TỰ DO

5- Cũng chính mình đã đưa ra cái ý kiến về câu “Có triệu người vui cũng có triệu người buồn“ của ông Võ văn Kiệt là: “Bề Trên”, ”Kẻ cả” ”chủ quan” bằng những lý lẽ để “bổ xung” (thực chất là để “bác bỏ”).

Rằng thì là: “Chẳng có cái tỷ lệ chung chung, bằng nhau đó đâu!” Sự thật thì cái ngày 30 tháng 4 đó có mở ra một vài hướng sống mới cho riêng dân miền Bắc, cả 30 năm sống kiếp ngựa trâu nhưng lại là bắt đầu cả một giai đoạn cực khổ tủi nhục, bất công chưa từng thấy cho toàn thể nhân dân miền Nam!
Đặc biệt khi chủ nghĩa cộng sản, sau khi ra mặt công khai lãnh đạo toàn diện cả cái nước “xuống hố cả nút” này rồi…thoái hóa tới mức “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa???” thì…mọi mặt xã hội của cả 2 miền đều bị dìm vào các cuộc đại…”loạn” …Vô tướng bất tài, vô lương tâm, vô học …đã trở thành những ông chủ thực sự từ xã đến trung ương, đã nắm tất tần tật mọi chức vụ quyết định sự sinh tồn của đất nước, kể cả… bán hay không bán nước!
Vậy mà cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng Hòa, “ông” naỳ, “ông” kia…chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!…Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?
Tóm lại, đã qua 38 năm cái 30 tháng 4, mỗi lần nó đến, mình chỉ buồn chứ chẳng vui chỉ vì:
Mỗi lần nó đến lại gợi lại nỗi phân chia đôi ngả của cả một dân tộc Việt Nam, trong đó có gia đình mình: Cả 6 đứa em đều không sao đàng hoàng về thăm lại nơi chôn rau cắt rốn. Còn thằng anh cả duy nhất còn ở lại Việt Nam này thì chưa chắc lúc chết được đặt nắm tro tàn cạnh Bố Mẹ, anh em, con cháu họ Tô chắc vẫn chỉ là một giấc mơ khó trở thành sự thực! Ôi! 30 tháng tư, mình là một trong những kẻ đau nhất vì MẤT nhiều nhất!
Mỗi lần nó đến lại như khoét sâu vào những nỗi đau của cả triệu triệu con người, vì nó mà con mất cha, vợ mất chồng, dân mất nước để cho một lũ chẳng một ngày xung phong cầm súng, chẳng một ngày đánh Pháp, đuổi Nhật, thậm chí cả chẳng một ngày “chống Mỹ xâm lược” bỗng dưng ăn trên ngồi chốc, làm vua hiểu dụ thần dân những điều vô lý, vô lẽ, vô luân… mà vẫn dám vỗ ngực là cộng sản là “chủ tập thể” của đất đai, là không có tam tứ quyền phân lập, phân liệt gì xất …nào là “tao có quyền lãnh đạo tuyệt đối muôn năm đất nước này, là quân đội do tao dựng lập ra nên phải phục vụ tao! rằng…tao nhất định sẽ lên…thiên đường! Kẻ nào phản đối, tao cho vô tù hết! Nhà tù 30 tháng tư nào cũng được mở rộng để khoan hồng cho những tên cướp, giết, hiếp, nhưng cũng để rộng chỗ cho những người “thoái hóa” như Phương Uyên, Điếu Cày, Nguyễn tiến Trung…và tất cả những tên lưu manh trí thức, cơ hội chính trị…!
Rõ ràng, những kẻ kiêu binh ăn mày dĩ vãng tanh mùi máu và đẫm mặn nước mắt đang ngày càng gây thêm thù, thêm oán…
Rõ ràng 30 tháng 4 không hề làm cho họ phải giật mình soi lại xem vì sao từ những giới trẻ như nhóm sinh viên luật đến lớp già như những trí thức, đảng viên lão thành lại ngày càng đông người ra mặt công khai lên tiếng phản đối mọi chủ trương đường lối phản nước hại dân của những đàn sâu phá hoại đất nước  …
Và mình, đến hôm nay, nhân ngày 30 tháng 4/2013, cũng nhân thể nhắc các bạn gần xa đọc lại trên to-hai.blogspot.com những gì mình đã tóm tắt lại ở trên mà tuyên bố rằng:

CHÍNH NGÀY 30 THÁNG 4 NÀY LÀ NGÀY ĐÃ GIẢI PHÓNG CHO TÔI, MỘT CÔNG DÂN MIỀN BẮC, KHỎI KIẾP NÔ LỆ MỘT THỨ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ NGOẠI LAI CỰC KỲ PHẢN ĐỘNG VÀ SẼ NGUYỀN GÓP SỨC ĐỂ SỚM CHÔN VÙI NÓ CÙNG VỚI NHỮNG KẺ SỐNG BÁM VÀO NÓ TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA CUỘC ĐỜI!

Advertisements

2 thoughts on “SÀI GÒN 30.4.1975

  1. HỢP CHỦNG quốc HK có bề dày lịch sử 200 năm (?) lại thay thế PHÁP nhảy vào 1 đất nước có 4000 năm văn hiến làm sân chơi thử lửa với chủ nghĩa CS hóa ra củng chỉ vì quyền lợi vật chất dở thủ đoạn đê hèn tồi tệ bỏ rơi đồng minh Con cháu nước MỸ nghỉ sao về cách hành xử của bọn nhà giàu bọn trí thức ác tâm (gốc DO THÁI) từng khuynh đảo chính trường Wasinhton gây nên ngày 30/4 chấn động lương tâm nhân loại
    Nixon,Kissinger,Nguyễn văn Thiệu các nhân tố chính của bản trường thiên đẩm máu cuối cùng cuộc chiến,,,những ân nhân tốt bụng không ngờ của BẮC VIỆT

  2. Với lá cờ vàng trên ngực áo
    Ta vẫn còn giử hơi ấm của non sông
    xin cám ơn người viết về ngày tháng của 40 năm về trước,cám ơn nhạc sỉ TÔ HẢI từng sống kiếp dân đen cùng khổ của miền Bắc cs…
    kết cục quá phi lý,bất nhân cho “bên thua cuộc”làm mỗi độ tháng 4 về càng thêm xót xa,u uất
    cái chiến thắng rổng tuếch,kiêu căng,đầy xảo quyệt thời cơ của’bên thắng cuôc”mà mổi độ th.4 về họ vặn hết công suất để gào cổ vủ để càng giử chắc thêm địa vị độc tôn hưởng lợi lộc và đàn áp
    Thượng đế còn ngoảnh mặt làm ngơ cho con dân VN nữa hay không?xin tổ tiên tiền nhân nước VIỆT phù hộ cho lô đất hình cong chử S yên bình thịnh trị (như dưới thời TRẦN NHÂN TÔNG,LÊ THÁNH TÔN) hầu chống giử trước nạn bành trướng,tham lam độc hiểm của đại hán BẮC KINH và tay sai

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s