NHỚ VỀ HỘI AN – QUẢNG NAM

Quang_Nam_Map_2.gifAi đi phố Hội Chùa cầu

Ðể thương để nhớ để sầu cho ai

Ðể sầu cho khách vãng lại

Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

Hội An thành phố cổ với nhiều di tích lịch sử chỉ còn dư âm một thời hưng thịnh, Hội An nhiều tranh cãi về tên gọi: Phải Phố, Hội Phố, Hải Phố thành phố ven biển, hay là Hai Phố vì có hai Phố Tàu-Nhựt hay Hoài Phố là phố soi bóng bên sông Hoài êm đềm thơ mộng .Thời thuộc địa Pháp gọi là Faifoo, Hội An và Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, ngày 1.12.1999 tại Marrakech Marocco.

Diễn tiến lịch sử  giữa hai nước Việt – Chiêm qua các thời đại

Cuộc chiến xảy ra giữa hai nước Việt-Chiêm qua các triều đại khác nhau. Từ thời vua Lê Ðại Hành (980-1005) muốn bang giao với Chiêm Thành, nhưng vua Chiêm (Paramecvarvarman) hiếu chiến bắt giam sứ giả. Sau khi phá được quân nhà Tống năm 981 ổn định tình hình đến năm 982 Lê Ðại Hành đem quân trừng phạt đến kinh đô Indrapura (ngày nay gọi là Ðồng Dương) giết vua Chiêm Paramecvarvarman rồi rút quân không chiếm đất. Hari-Varman II (988-998) lên ngôi lo sợ Ðại Việt, năm 1000 dời Kinh đô vào vùng Vijaya (Phật Thệ) gọi là Ðồ Bàn thuộc huyện Tuy Viễn, Bình Ðịnh.

Lý Thánh Tông (1054-1072) Vua đầu tiên mở mang bờ cõi xuống phía Nam, người Chiêm thường quấy phá người Việt, Lý Thánh Tông đem quân đánh tới Ðồ Bàn, năm (1069) bắt vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman III) Chế Củ nhường 3 Châu là Bố Chánh (bắc Quảng Bình) Ðịa Lý (Quảng Trung và nam Quảng Bình) Ma Linh (Quảng Trị) đổi lấy tự do. Ðược đất nhà vua chiêu mộ dân chúng đến khai khẩn, trồng trọt …

ImageHandTrần Thánh Tông (1258-1278) nhường ngôi cho Thái tử Thuyên tức Trần Anh Tông (1293-1314). Theo Khâm Ðịnh Việt Sử thông giám cương mục viết: Thái Thượng Hoàng quy y cửa Phật tại chùa Võ Lâm (Khánh Yên Ninh Bình về sau tu tại núi Yên Tử Quảng Yên). Ngài sang thăm Chiêm Thành hai nước Việt Chiêm bang giao tốt đẹp, về đia lý thì ranh giới từ Quảng Trị trở ra đất hẹp khô cằn khó phát triển, phương bắc Trung Hoa luôn quấy phá, qua đèo Hải Vân về phía Nam là đồng bằng phì nhiêu, bờ biển trải dài hy vọng phát triển về kinh tế là vùng đất hứa hẹn cho tương lai. Tại kinh đô Phật Thệ Hoàng tử Hari-Jit là vua Jaya- Simha- Varman / Chế Mân, tiếp đãi Thượng Hoàng nồng hậu mời đi thăm tháp Thốc lốc, tháp Dương Long. Nhờ ấn tượng đẹp hiếu hòa của Chế Mân đối với Thượng Hoàng, nên ngài hứa gả Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mân (dù Chế Mân đã kết hôn với nàng Tapasi của xứ Java), cả triều đại Ðại Việt đều phản đối vấn đề hôn nhân. Ca dao có câu:

 Tiếc thay cây quế giữa rừng.

 Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo“

Chế Mân sai Chế Bồ Ðài dẫn hơn 100 người tùy tùng dâng lễ cầu hôn, Thái Thượng Hoàng giữ lời hứa gả Huyền Trân, là đường lối ngoại giao, chính trị ảnh hưởng tốt cho sự tồn vong và mở rộng bờ cõi của Ðại Việt. Năm bính ngọ 1306 Chế Mân (Jaya Simhavarman) làm lễ thành hôn với Huyền Trân Công Chúa, bà được tấn phong làm Hoàng Hậu gọi là Paramecvari. Chế Mân trị vì năm (1288-1307)  là chàng rể hào hoa phong nhã dâng hai Châu Ô và Châu Lý làm sính lễ, cuộc hôn nhân nầy tạo ngoại giao tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt-Chiêm.

Trần Anh Tông (1293-1314) thâu nhận hai Châu trên đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu. Hóa Châu gồm Ðiện Bàn và Duy Xuyên ngày nay, Ðại Việt  cho di dân đến khai phá, từ đó có cơ hội cho các Triều đại kế tiếp tiến dần về phương Nam. Huyền Trân theo chồng một năm sau, vua Chế Mân dựng xong tháp Po Kloong Girai (Ðồi Trầu) tại Phan Rang thì qua đời năm 1307. Theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng hậu Paramecvari phải hỏa thiêu theo chồng. Tục lệ nầy người Ấn Giáo còn áp dụng gọi là Suttee (trà tỳ) sau năm 1829 chấm dứt tục lệ nầy.

Vua Trần Anh Tông cử phái đoàn Trần Khắc Chung sang điếu tang lợi dụng cơ hội nầy giải thoát Huyền Trân đem về đến Thăng Long mùa thu năm 1308. Huyền Trân qui y cửa Phật lập Am dưới chân núi Hổ để tu và qua đời năm 1340. (di tích Am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự). Chế Chí lên ngôi ngoại giao của hai nước Việt Chiêm bất hòa. Năm 1311 Tân hợi Trần Anh Tông cùng với Trần Quốc Chân, Trần Khánh Dư đánh Chiêm Thành….

Nhà Trần suy yếu bị nhà Hồ chiếm ngôi, Chế Bồng Nga (Pô Bin Swor 1360-1390) đem quân sang đánh phá Ðại Việt vào các năm 1377 và 1378 Năm 1390 Chế Bồng Nga đem đại quân sang đánh vua Trần Thuận Tông (1388-1398). Từ Thanh Hóa tiến lên Hưng Yên đánh với tướng Trần Khát Chân (1370-1399) Chế Bồng Nga bị Ba Lậu Kê làm phản chỉ điểm. Chiến thuyền của Chế Bồng Nga bị bắn trúng tử trận.Tướng Chiêm Thành là La Khải hỏa tán thi thể Chế Bồng Nga và rút quân về. Từ đó Chiêm Thành suy yếu dần.

UnbenanntHồ Hán Thương con Hồ Qúy Ly (1401-1407) sai tướng Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm là La Ba Ðích Lại (Virabhadravarman) thua nhường đất Chiêm Ðộng (Thăng Bình) Thượng Hoàng Hồ Qúy Ly đòi thêm miền Cổ Lũy Ðộng (Quảng Ngãi) …Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị. Quân Minh đánh Ðại Việt, bắt gia đình nhà Hồ (1407) Vua Chiêm là Trà Toàn lợi dụng lúc thay chủ đổi ngôi, đem đại quân đánh chiếm phần đất đã nhường cho nhà Hồ….

Lê Thánh Tông (1460-1497) bị Chiêm Thành đem quân quấy phá. Vua Lê phản công hành quân tới Kinh đô Ðồ Bàn 1471 bắt Trà Toàn và Trà Toại. Chấm dứt chiến tranh Việt Chiêm, chiếm vùng đất mới đổi tên thành Hoài Nhơn, sát nhập vào bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghiã, trở thành Quảng Nam Thừa Tuyên Ðạo. Danh từ QUẢNG NAM CHÍNH THỨC ÐI VÀO LỊCH SỬ.  Di dân Ðại Việt với tính nhẫn nại chuyên cần, khai phá hoang điạ, vượt qua sơn lam, chướng khí và thú dữ tạo nên làng mạc, những cánh đồng lúa phì nhiêu, người Việt nhờ đoàn kết có tổ chức, tạo dựng cuộc sống mới, được quân đội can thiệp bảo vệ nếu Chiêm Thành quấy phá. Dân Chiêm Thành có nhiều Thị Tộc khác nhau, mỗi thị tộc có cùng một họ và vật tổ riêng. Hai thị tộc lớn là thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở vùng Indrapura Quảng Nam và thị tộc Cây Cau (Kramukavamca vùng Panduranga/ Phan Rang. Các Vua Chiêm Thành, hiếu chiến gây chiến để rồi trở thành nạn nhân khi bị đánh trả, thua trận nhường đất…Thế lực suy kém càng ngày xa lánh người Việt, vô tình họ bỏ đất cho người Việt khai phá.

Năm 1693 vua Chiêm là Bà Tranh không tiến cống, Nguyễn Phúc Chu sai Tổng binh Nguyễn Hữu Trấn sang đánh và đồng hóa thiểu số Dân tộc Chiêm Thành thay đổi y phục như người Việt. Chiêm Thành từ từ bị xóa tên, đến năm 1833 triều Ðại vua Minh Mạng (1820-1840), có sự nổi dậy của Chiêm Thành do Katip Sumat và Ja Thak trong các năm 1833-1835 đều bị đánh dẹp. Vương quốc Chiêm Thành từng có quân đội hùng mạnh, nhưng trải qua nhiều cuộc chiến bị suy thói, không tránh khỏi bị sát hại qua những cuộc giao tranh, dân tộc Chiêm Thành chỉ còn thiểu số! Nhìn lại thực tại đang bị lạc loài trong chốn rừng hoang u tịch! nhớ thương về cố quốc với nỗi buồn hận Ðồ Bàn!

Nhưng nước chảy, mờ tan, Ngài bỗng thấy

Cả không gian nhuần đượm vẻ sầu bi

Chiến tượng bỗng gầm vang trong gió rét

Ðể dư âm rung chuyễn cả ngàn xanh..

Chế Lan Viên (tập thơ Ðiêu tàn)

Trải qua nhiều thời đại từ nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lê, nhà Nguyễn. Hội An được phục hồi dưới thời Nguyễn Hoàng (1558-1613) kiêm nhiệm Trấn Nhậm Ðạo Quảng Nam nhờ chính sách cai trị tốt đẹp, hoạt động mạnh ngành ngoại thương, phát triển về kinh tế cạnh tranh với phố Hiến Ðàng ngoài. Từ cuối thế kỷ 16  thế kỷ 17 các thương nhân: Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan, nhiều người Hoa và người Nhật đến định cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển, buôn bán tấp nập, các thổ sản cau khô quế, gạo hương, gạo nếp, đường, các loại bông, thuốc lá, tiêu, yến sào cù Lao Chàm, tơ sống, các loại lụa, gỗ quý, hoa quả.vv… ngược lại người  Châu đem đến đồ sứ, giấy, vải nỉ, lưu huỳnh, diêm sinh chì kẽm.. Người Hoa và Nhật thì bán các loại thuốc bắc, giày dép, gấm, thuốc nhuộm, bút mực, kim, nút áo… Thương gia Nhật Bản từ Nagasaki tới Hội An năm (1604-1634) lập các tiệm buôn, kiến tạo khu phố riêng. Xây Lai Viễn Kiều bắt ngang con rạch nhỏ, nối tiếp giữa con đường Duy Tân và Cường Ðể (gọi là Chùa Cầu), làm bằng gỗ dài 18 m lợp mái ngói âm dương. Hai bên cầu thờ mỗi bên hai con chó và hai con khỉ bằng gỗ mít với tư thế ngổi chầu với miếng vải điều buộc bên đầu…

„Hội An có bốn nàng tiên

Hai nàng tuổi Tuất hai nàng tuổi Thân“

340Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu. Năm 1719 chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên là Lai Viễn Kiều nghĩa là “bạn phương xa đến“. Trên cửa chính của chùa có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Lai Viễn Kiều, trong chùa thờ Bắc Đế Trấn Võ. Chùa Cầu được trùng tu những năm 1763, 1817,1875,1917 và 1986 còn giữ được những nét cổ kính.

Nhờ địa lý sông biển Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều thế kỷ. Hội An một thời là trung tâm ngoại thương, cửa ngỏ quan trọng tiếp xúc với văn minh Tây Phương, cách Huế khoảng 130 km. Trước khi người Việt di dân đến, thương nhân người Bồ Ðồ Nha từng đến khảo sát buôn bán tại cửa Ðại Chiêm (cửa Ðại ngày nay) người Bồ gọi hải cảng đó với tên Cacciam. Và người Chiêm Thành dùng cửa biển Ðại Chiêm buôn bán với Java Mã Lai, Ấn độ phần lớn người Chiêm Thành theo Hồi Giáo (Islam) và Bà La Môn (Brahman).

rhodes-tdNăm 1615 Giáo sĩ  Francesco Buzzoni (1576-1639) và Diego Carvahlo người Tây Ban Nha đến Hội An truyền giáo. Kế tiếp giáo sĩ Francesco de Pina (1585-1625) Dòng Tên người Bồ Ðồ Nha đến Hội An các năm (1616-1617 và 1620-1623), thông thạo tiếng Việt, ngài là người đầu tiên biên soạn từ tiếng la tin sang Việt ngữ; kế tiếp Alexandre de Rhodes (1583-1660) người Pháp, đến Hội An năm 1624 là nhà truyền giáo, nhà ngôn ngữ học. Học tiếng Việt, tiếp tục phiên âm soạn chữ Quốc ngữ, mở đầu kỷ nguyên mới cho Văn học Việt Nam. Năm 1651 Alexandre de Rhodes cho in tự điển Việt ngữ – La tin Dictionnaire Annamite Portugais Latin và cuốn giáo lý vấn đáp Catéchismeannamite et Latin. Sau đó giám mục d’ Adran (Bá Ða Lộc) sửa lại thành bộ tự điển Việt ngữ sang La tin, kế tiếp công việc nầy là giám mục Tabert biên soạn thành bộ Dictionnaire Annamnitico-Latatinum.

Nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh bùng nổ tại Bố Chánh năm 1627. Người Hòa Lan dù đến buôn bán từ năm 1636 đến 1641 nhưng phải rời Ðàng Trong vì họ giúp cho Chúa Trịnh Ðàng Ngoài. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên theo chính sách nhà Trần, gả con gái cho vua Chiêm Thành để ngoại giao hai nước được ổn định ở phía Nam, vì phiá Bắc phải đương đầu chống lại với Chúa Trịnh.

Năm 1620 Sãi Vương gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II và bà trở thành Hoàng hậu với tước hiệu là Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac, về sau nể tình bà Vua Chân Lạp cho người Việt lập dinh điền tại Mô Xoài Bà Riạ. Năm 631 Sãi Vương gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Chiêm là Po Rome. Nhờ có cuộc hôn nhân nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt-Chiêm tốt đẹp. Vấn đề hôn nhân dị chủng không xa lạ khi người Pháp, người Mỹ đến Việt Nam, nhưng trường hợp kết hôn của các Công chúa: Huyền Trân thế kỷ thứ 14 được vùng đất Thuận-Hóa. Công chúa Ngọc Vạn, và Ngọc Khoa thế kỷ thứ 17, từ đó có cơ hội đưa người Việt xuống vùng đất Chân Lạp, đồng bằng sông Cửu Long. Chúng ta nên vinh danh các nàng Công chúa đã hy sinh, lập gia đình theo nhu cầu và quyền lợi của dân tộc Ðại Việt.

Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai và 4 con gái, (Ngọc Đĩnh, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa, và Ngọc Liên) Sãi vương là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn Hoàng Đế.  Nhà văn Lê Minh Quốc viết trong tác phẩm NGƯỜI QUẢNG NAM trang 104, „thương gia Araki Sotaro cưới công chúa Ngọc Hoa (người Nhật gọi là Anio). Họ sinh sống ở Hội An 10 năm, trở về Nhật, theo biến cố lịch sử Nhật bế môn tỏa cảng cấm đạo, gia đình Araki Sotaro không thể trở lại Việt Nam…!“ Sử sách chỉ vinh danh hai công chúa Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Rất tiếc tôi chưa có cuốn „ Nguyễn Phúc tộc gia phả“ sưu khảo để giải mã về công chúa Ngọc Hoa.

Dưới thời Tokugawa Iemitsu (1623-1651) cầm quyền, vào năm 1635 Nhật áp dụng chính sách bế môn tỏa cảng, và từ đó Hội An vắng bóng người Nhật, nhường ảnh hưởng thương mãi cho người Trung Hoa và các thương thuyền Âu Châu. Các thương thuyền ngoại quốc đến Á Châu buôn bán như Mã Lai, Ấn Ðộ, Macao cũng ghé vào cảng Hội An buôn bán. Theo thời tiết họ thả neo tại Hội An vào mùa xuân chờ đến mùa Thu có gió nồm thổi đến nhổ neo thả buồm đi về hướng Bắc. Ðầu thế kỷ 17 người Trung Hoa là những thần dân, quan lại của nhà Minh (1368-1644) bị sụp đổ bỏ nước xuôi nam, Vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh. Lập nên vương Triều Mãn Thanh (1644-1912).

Người Hoa sống các ven biển Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Ðông, Hải Nam dùng thuyền đến Việt Nam tị nạn. Lúc đầu họ đến Phú Xuân, kinh đô xứ Ðàng Trong, sống tập trung thành một làng, gọi là làng Minh Hương. Hội An có nhiều thương khách người Hoa đến buôn bán từ trước, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan cho phép người Hoa nhập quốc tịch Ðại Việt xây dựng làng Minh Hương (1645-1653). Nhờ kinh nghiệm về thương mãi, ngoại thương người Minh Hương thành công đời sống hưng thịnh tại Hội An.

hoian-hoi-quan-trieu-chauNăm 1679 cựu quan lại nhà Minh chống nhà Thanh thất bại là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên… với 3000 quân và 50 chiến thuyền sang xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn là Hiền Vương (1648-1687) cho phép một số người đến Hội an, còn lại gởi vào đất Chân Lạp yêu cầu vua Chân Lạp cho đất lập nghiệp. Như dòng họ Mạc Cửu (1655-1735) khai phá Hà Tiên  vv…Người Hoa trọng đạo Khổng Mạnh: Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín, cũng như Ðạo Phật phát triển mạnh, các danh tăng vận động xây nhiều ngôi chùa nguy nga, tráng lệ như chùa Quảng Triệu, chùa Phước Kiến (người ta quen gọi là Chùa Tàu) Cổng Tam quan có 3 mái ngói cong, màu xanh lá cây trên mái có những con rồng dài lộng lẫy, tường sơn màu hồng nhạt. phiá trước có cái Ðỉnh bằng đồng đen cao khoảng 1m50 hai bên cổng, hai con Ruà lớn bằng đá đội cột bia cao, bên cạnh những cây sứ to vỏ cây màu xám đậm. Nhiều cây kiểng cắt tiả công phu. Phiá sau cổng tam quan là ngôi chùa kiến trúc theo lối cổ điêu khắc công phu, cột gỗ to màu đen, dưới chân  là những tảng đá đen hình vuông hay tròn, trên cột treo những câu đối đỏ, chữ mạ vàng… Bàn thờ uy nguy đầy nét huyền bí. Nhang hình xoắn khói màu trắng nhẹ nhàng phảng phất thơm mùi trầm. Phần lớn người Hoa ở trên đường Cường Ðể (Trần Phú) xây các Hội Quán, sinh hoạt tế lễ hàng năm. Vật liệu xây cất đá quý, tranh thủy mạc.. được nhập cảng từ các vùng bên Trung Hoa.

Hội Quán Phúc Kiến  (1792 )

Hội Quán Quảng Ðông (1786)

Hội Quán Hải Nam (?)

Hội Quán Triều Châu (1776)

Hội Quán năm cộng đồng người Hoa (1773)

Người Hoa phần lớn sống về ngành thương mãi, nhưng nhiều người đóng góp rất tích cực cho đất nước VN trên nhiều lảnh vực chính trị, văn hoá như Ông Châu Thượng Văn (1856-1908) hiệu Thơ Ðồng gốc người Minh Hương, nhiệt thành yêu nước Việt và hăng say đóng góp với Phong Trào Duy Tân. Năm 1908 bị bắt cùng với Huỳnh Thúc Kháng. Châu Tiên Sinh phản đối chính quyền bảo hộ đàn áp sĩ phu Việt Nam, tuyệt thực mất trong lao Thừa Phủ Huế trước khi đày đến Lao Bảo. Nhạc sĩ La Hối sáng tác nhạc phẩm bất hủ „Xuân và tuổi trẻ“ v v… Hội An lui dần vào những ngày trầm lặng, vua Ðồng Khánh trị vì (1885-1888) nhường Ðà Nẵng năm 1888 cho thực dân Pháp. Các thương nhân tàu bè cập bến Ðà Nẵng; từ cửa Ðại vào Hội An lòng sông không sâu tàu lớn khó vào được. Ðà Nẵng từ từ thay thế trên mọi lãnh vực: thương mãi, quân sự và ngoại giao.

tuongchoChuaCau-1Năm 1945 Việt Minh chống Tây chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nhà cửa đình chùa đều bị phá hủy, Ðình Miếu bị đập phá còn lại những đống gạch vôi vụn, chỉ còn nghe nhắc lại địa danh như vườn Chùa, đất Ðình, đất Làng mà thôi. Thời gian sau cơ quan hành chánh từ La Qua Ðiện Bàn dời về Hội An trở nên thành phố thương mãi Hành chánh và Tiểu Khu tỉnh Quảng Nam. Trước năm 1975 bệnh viện Hội An được chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Tây Ðức tài trợ, có các y  tá bác sĩ người Ðức phục vụ, khám bệnh phát thuốc miễn phí.

Quảng Nam ngày nay diện tích 10.438,4 km², dân số 1.435.000 người mật độ trung bình 137 người/km². Từng là đất „Địa linh nhân kiệt- Ngũ Phụng tề phi“ nơi phát động các Phong Trào: Nghiã Hội (1885-1887) Ðông Du (1903-1905) và Duy Tân (1906-1908). Là những ngọn đuốt soi sáng, đưa đến những cuộc vận động tranh đấu giành lại độc lập của toàn dân Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hội An ảnh hưởng văn hóa đa nguyên, tổng hợp những tinh hoa, tiếp xúc văn minh Tây phương đều khởi đầu tại Hội An Quảng Nam. Hội An còn lại các ngôi Ðình Miếu cổ, lưu lại dấu tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Nam. Ðình Cẩm Phô ở ngã ba Khổng Miếu, Ðình Cây Đa Kèn (thời Tây mỗi buổi sáng đội lính Tây đứng dưới gốc cây đa thổi kèn) nên người ta gọi là Cây Ða Kèn thân to lớn, tàng lá xum sê tươi tốt che phủ ngôi đình làng cổ kính. Ðình làng Cẩm Hà trên đường vào chùa Long Tuyền, Ðình ông Voi trên đường Lê Lợi ..Ðình Cẩm Phô thờ dòng họ của cố văn hào Nhất Linh…

Các Ðình Miếu kiến trúc thường có 3 gian, ba bàn thờ khác nhau, đơn giản nhưng huyền bí, nhiều cột gỗ to chạm trổ công phu, lợp ngói âm dương trên nóc có lưỡng long tranh châu hay cặp rồng chạy dài theo mái, tường xây gạch nung bên ngoài tô vôi. Theo thời gian rêu phong biến thành màu đen hay xanh đậm. Sân đình có các tấm bia lớn chạm hình long, hổ, phụng cẩn các mảnh bằng sứ. Theo phong tục cổ truyền hàng năm các cụ trong quốc phục khăn đóng áo dài cúng Ðình, trên bàn thờ có heo quay, xôi bánh, trái cây đủ loại khói hương nghi ngút, đánh chiêng trống tế lễ. (ngày nay Hội An có qúa nhiều lễ Hội…). Chùa Ông xây năm 1653 với kiến trúc uy nghi qua 6 lần trùng tu, thờ Quan Vân Trường biểu tượng về lòng trung hiếu tiết nghĩa theo Khổng giáo. Chùa Chúc Thánh do vị danh sư Minh Hải sáng lập có nhiều nét kiến trúc của Trung Hoa. Năm 1917 hai tăng sĩ trẻ từ Huế vào thọ Tỳ Keo tại Tổ đình nầy, trong đại giới Ðàn Minh Hải. Sau nầy hai vị sư đó trở thành danh tăng: Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Ðệ nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Chùa Long Tuyền biệt lập thanh tịnh trên cồn cát trắng, chạy dài song song với phố Hội. Chùa cổ mái thấp nhiều cột, sân lót gạch, hòn non bộ tuyệt đẹp, nước chảy từ khe núi nhỏ bên cạnh các ông tiên đang đánh cờ, đàn cá vàng lội tung tăng, cổng tam quan xây gạch tô vôi, hai cánh cửa gỗ lớn dày, phần đất bên cổng chùa có vài cổ tháp, là mộ phần các vị trù trì tiền nhiệm viên tịch, những hàng sứ xanh mùa hè nở hoa thơm ngát, xa xa những cây phi lao vi vu trong gió. Còn lại dấu tích đường rầy tàu lửa chạy ngang từ thời Pháp thuộc. (đường rầy bị gở).

Chùa Viên Giác nằm trên đường chính vào phố Hội, cổng tam quan với hai cánh cửa sắt, chung quanh được xây tường bằng xi măng, trước chùa hai hàng dừa xanh tươi. Hai cây đa cổ thụ phủ bóng mát quanh năm, dãy nhà một tầng lầu tiện lợi cho mùa đông khi nước lụt lên cao, chính điện rộng, sân Chùa nhiều cây kiểng đẹp, cũng là nơi phát xuất phong trào đấu tranh xuống đường năm 1966 của Phật Giáo tại Hội An. Chùa tỉnh Giáo Hội trên đường Trưng Trắc, bên cạnh là trường Trung học Bồ Ðề phiá trước là bàu rau muống xanh tươi, có hàng dừa cao chót vót đứng chơ vơ giửa trời. Chùa Sư Nữ gần nhà máy đèn,Tịnh Xá Ngọc Cơ hình bát giác, giữa là tôn tượng Ðức Phật lớn, các vị Khất Sĩ mặc áo vàng đi chân đất, ôm bình bát đi khất thực.

Thánh Thất Cao Ðài cột cờ cao, lá phướng dài tung bay trong gió bên cạnh bến xe cũ. Giáo đường Thiên Chúa Gíáo trên đường Nguyễn Trường Tộ đối diện sân vận động, theo tài liệu năm 1914, một số giáo dân quy tụ về Hội An, xây nhà nguyện bằng tranh và gỗ năm 1935 linh mục Pierre Gallioz thay thế ngôi nhà nguyện này bằng ngôi nhà thờ kiên cố theo kiến trúc Gothique.  Năm 1965 nhà Thờ này xây lại mới cho tới ngày nay, ngoài ra có thêm nhà thờ Tin Lành tại ngã ba Khổng Miếu.

H a 1Ðền thờ Khổng Tử (gọi là Khổng Miếu) có cầu vồng hồ bán nguyệt mùa hè sen nở rất đẹp, chung quanh xây tường cao trồng dừa, đài tưởng niệm Chiến Sĩ, tấm bia hình tháp cao tựa như chùa một cột, đứng trên hồ sen hình vuông, chung quanh trồng trúc vàng, (xây thời Ðệ Nhất Cộng Hòa 1957). Trước 1975 Hội an có các trường công lập Nam, Nữ tiểu học, trung học Trần Quý Cáp và trường Nữ trung học. Ngoài ra có trường tư thục Diên Hồng trường nầy nhỏ cổ kính, thâu nhận không được nhiều học sinh, sau nầy có thêm trường trung học Bồ Ðề mở rộng đủ tiêu chuẩn nhiều học sinh theo học, ngoài ra người Minh Hương có trường trung học đệ nhất cấp. Các trường trung học tại Hội An đào tạo nhiều danh nhân xứ Quảng.

Hội An có những cây đa, cây bàn cổ thụ hàng trăm năm tươi tốt. Giếng Bá Lễ nằm trong hẻm người ta thường gọi kiệt Bá Lễ ăn thông qua hai đường Phan Châu Trinh và Trần Hưng Ðạo, nhờ nước giếng nầy sản xuất loại bún Cao Lầu, đặc sản nổi tiếng tại Hội An, Cao Lầu cũng sản xuất từ bột gạo, nhưng không đơn giản như Mì Quảng, loại mì nầy phải ngâm qua một dung dịch nước tro (nhà văn Nguyễn Văn Xuân dẫn chứng con cháu Hội An đi nơi khác không thể nào làm được Cao Lầu như tại Hội An). Mì Quảng, bánh su xê, tương ớt, sương xoa (bằng rau câu), bánh in, bánh tổ, vào Tết Ðoan Ngọ mùng 5 tháng 5 bán bánh ú tro nhỏ không nhân, gói bằng lá dong một chùm 12 cái, chấm với đường cát ăn thơm ngon, nhờ nếp được ngâm vào nước tro thổ sản đặc biệt. Trong mùa bắp có bắp nấu hay nướng. Buổi sáng tinh sương nghe tiếng gõ của ngư dân đánh cá trên sông, mùa hến họ cào hến, luộc chín bỏ vỏ lấy nước và ruột hến gánh bán quanh phố, Cơm hến hay canh hến nấu với rau muống rất ngon và hấp dẫn. Bánh tráng ướt và bánh tráng nướng đập dập chấm nước mắn, Các loại chè: chè lục tàu xá, đậu xanh đánh, hạt sen, đậu váng, đậu hủ vv.. những gánh phở bán dạo trong đêm bên chiếc đèn dầu mờ ảo. Chúng ta khó quên tiếng còi hụ buổi sáng và giờ giới nghiêm, tôi nhớ trước 1965 có rạp Ciné ở đường Bạch Đằng, sau đó không còn, cuối tuần trước Ty Thông tin thường chiếu phim công cộng mọi người đến đứng xem giải trí, rạp hát trên đường Phan Châu Trinh cho các đoàn Hát Bội…

Nachts-am-Thu-Bon-Fluss-in-Hoi-AnHội An ngày nay có diện tích 61,4688 km², dân số121.712 người, năm 1998 Hội An được khôi phục lại việc thắp lồng đèn trên phố cổ, tạo khung cảnh mới lạ. Các loại lồng đèn, theo kiểu Trung Hoa, Nhật Bản. Các loại hình qủa nhót, qủa bí, khung bằng tre bọc giấy hay lụa màu, hoặc loại khung gỗ qúy chạm trổ bọc kính vẽ hình màu. Lồng đèn treo trước hiên nhà, cửa tiệm ánh sáng nhẹ, tạo những nét rất kỳ ảo trên khu phố cổ bằng gỗ hai tầng. Quảng Nam online giới thiệu Hội An có 5.000 cơ sở kinh doanh, buôn bán, 84 khách sạn có loại4-5 sao, 58 cửa hàng, cửa hiệu và 50 nhà hàng sang trọng. Thêm Đại học Phan Châu Trinh mong cho thế hệ trẻ có cơ hội học phát triển tài năng. Theo tiến trình lịch sử nếu một Quốc Gia dân trí có trình độ cao thì chế độ độc tài sẽ không còn tồn tại.

Theo quảng cáo du lịch, Hội An có 600 loại hàng thủ công nghệ bày bán, đẹp nhất là tơ lụa được mọi người ưa thích, du khách đến Hội An giúp đời sống sinh hoạt ồn ào, náo nhiệt hơn. Thời thơ ấu tôi thường rong chơi phố Hội qua từng con đường, từng ngỏ hẽm mà nay phần lớn bị đổi tên, 45 năm xa Hội An chưa một lần trở về thăm thành phố với nhiều kỷ niệm khó quên. Mong nhà cầm quyền CSVN bảo vệ môi trường sông nước… đừng bán hết cái cổ kính để làm giàu trên những di tích lịch sử của người dân xứ Quảng.

Nguyễn Quý Đại

Tài liệu tham khảo

Scan-121018-0002Người Quảng  Nam của Lê Minh Quốc nhà xuất bản Trẻ

Những Câu Chuyện Lịch Sử tập 2  Trần Gia Phụng Toronto 1999

Người Hoa tại Việt Nam  tác giả Nguyễn văn Huy NxB NBC Paris

VietNam Annaliese Wulf DuMont Buchverlag Koeln 1995

Việt Sử Xứ Đàng Trong  tác giả Phan Khoang

Truy cập về dân số, diện tích và hình  trên Internet

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s