HUẾ QUA THI CA

2Ai về Xứ Huế cho ta nhắn

Thăm lại sông Hương núi Ngự Bình

Từ lúc tha hương nơi Ðất Hứa

Nghìn năm thương nhớ chốn Thần Kinh

(Tâm Ðạo)

Huế kiêu sa và quyền lực một thời vang bóng, nhưng Huế đã lùi vào dĩ vãng chỉ còn lại di tích lịch sử và thi ca lãng mạn. Viết về thi ca, lễ, nhạc xứ Huế quá rộng và bất tận. Tôi chỉ tham khảo những nét chính qua thi ca bình dân. Ca dao truyền tụng từ đời nầy sang đời khác được phổ biến sâu rộng trong dân gian và mãi mãi trường tồn trong lâu đài văn hóa dân tộc .

Từ Đà Nẵng ra Ðại Học Huế, tôi có cơ hội tiếp xúc với phong tục đời sống, cảm nhận thi ca bình dân của Huế. Kỷ niệm hơn 40 năm qua nhớ về Huế mùa hè lắm ve sầu hót véo von, sông Hương nước trong xanh lững lờ chảy về Thuận An, các đàn cá đối ung dung bơi lội tìm mồi. Hai bên bờ phượng vĩ đỏ rực lộ hẳn trên nền trời xanh biếc. Có lẽ đúng đất Thần kinh thơ mộng, nên thi ca bình dân phong phú, lãng mạn. Các điệu hò trên sông Hương trong những đêm trăng đẹp mộng mơ đã làm rung động lòng người lữ khách.

Ðến Huế để nhìn lại những cung điện, đền đài, lăng tẩm, thưởng thức các món đặc sản: bún bò Huế, bánh khóai, tré nem… chưa đủ, mà phải nghe tiếng hát ru con qua ca dao, hay các giọng hò mái nhì, mái đẩy… trên sông Hương một phương trời rộng mở bao la, như vậy mới gọi là thưởng thức trọn vẹn được cái hay, cái đẹp khi hoàng hôn vừa vụt tắt, cố đô chìm sâu trong cô tịch, lặng im.

Thi ca bình dân gợi lại dư âm uy nghi của Kinh đô, từ cửa Ngọ Môn cao vời vợi có lầu Ngũ phụng uy quyền qua các triều đại, đến Ðiện Thái Hòa nơi thiết-đại-triều, giờ đây vắng bóng người.. Thời xa xưa người Việt dùng loại đèn chai đốt sáng, đã biến mất theo sự phát triển khoa học, đèn điện sáng tiện lợi, nhưng không tạo được nét huyền ảo trong những đêm trăng non ở Huế .                                  

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng

Ai ơi chớ phụ đèn chai

Thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Người xưa tạo lập để công hầu vô ra.

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Một lầu vàng, tám lầu xanh,

Ba cửa thẳng, hai cửa quanh

Sinh em ra phận gái, không hỏi chốn kinh thành làm chi!

Huế đất không rộng nhưng có chợ Ðông Ba trước có tên là Ðông Phước thay đổi vài lần, năm 1899 dời ra phố Tràng Tiền cho đến ngày nay, chùa Diệu Ðế ở đông ngạn sông Ðông Ba, chùa Thiên Mụ … các di tích dù bị chiến tranh, thiên tai tàn phá, nhưng được trùng tu, các địa danh gắn liền với lịch sử, và phong tục.

Văn Thánh trồng thông

Võ Thánh trồng bàng

Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u. [1]

Ðông Ba, Gia Hội hai Cầu

Ngó lên Diệu Ðế trống lầu gác chuông

Bến chợ Ðông Ba, tiếng gà eo óc

Bến chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh

Giữa sông Hương giợn sóng khuynh thành

chuathienmuChùa Thiên Mụ kiến trúc tôn giáo cổ đẹp nhất Huế. Chùa có từ thế kỷ XIV, dựng trên đồi Hà Khê, nằm ở bờ bắc sông Hương, cách kinh thành 7 km về phía tây. Chùa gắn với huyền thoại bà Tiên áo đỏ, nên chùa có tên là Thiên Mụ (bà Tiên trên trời). Trong chùa có ngọn tháp Phước Duyên, hình bát giác cao 21m chia làm 7 tầng. Mặt phía Nam, mỗi tầng có một cửa cuốn, đặt tượng Phật. Theo tương truyền năm 1601 chúa Nguyễn Hoàng đến đây thấy phần đất thiên, cảnh đẹp, trước có sông sau là hồ, dựng nên chùa Thiên Mụ, mãi đến năm 1710 chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc có Đại hồng chuông, cao 2,5 m, đường kính 1,4 m, nặng 2.632 kg, được đúc từ thế kỷ XVIII. chuông nặng 3285 cân ta, tiếng chuông ngân vọng ra xa, bên kia sông là làng Long Thọ Xương, có tiếng gà gáy ó o.

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Thiên Mụ, Canh gà Thọ Xương

Ai về cầu ngói Thanh Toàn

Cho em về với một đoàn cho vui.

Cầu Thanh Toàn nằm ở cuối làng Thanh Thủy, thuộc xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế chừng 8km về hướng đông. Tên cầu chính là tên làng trước đây khi chưa bị đổi tên. Xây cách đây hơn 200 năm, bắc qua một con rạch chảy giữa làng. Cầu bằng gỗ dài 17m, rộng 4m, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ốp tráng men, chia làm bảy gian. Do kiến trúc như vậy nên các nhà nghiên cứu đã xếp cầu này vào loại “thượng gia, hạ kiều”, tức phía trên là nhà, phía dưới là cầu

Sông Hương đẹp thơ mộng, bởi sông chạy qua những cánh rừng thảo mộc có hương thơm dài 80 km. Sông Hương uốn lượn quanh thành Huế, làm say đắm du khách. Thuyền đưa du khách trên sông quanh kinh thành qua các cầu Phú Xuân, Tràng Tiền, Dã Viên,  lên thăm chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, lăng Minh Mạng… để rồi xuôi về cửa Thuận An. Núi Ngự nằm ở bờ Nam, còn có tên Băng Sơn cách kinh thành khoảng 3 km. Ngọn núi hình thang cao 105 m, đỉnh bằng phẳng như một bức bình phong che chở cho kinh thành

Huế đẹp thơ mộng, từ Ðà Nẵng ra trước khi đến Huế thấy núi Ngự Bình nhìn phía trước tròn nhưng sau hơi méo, cây cối không cao nhưng có nơi chim cu đứng gáy. Bến đò nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng, dưới cầu Gia Hội những chiếc đò nhỏ có mái cong. Khách bộ hành đi ngang qua đó sẽ được các cô  mời gọi..

Thuyền ai lơ lửng trên sông,

Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?

Ðể ta kết ngãi nối duyên

Trai anh hào gặp được thuyền quyên còn gì?

Thuyền ai trôi trước cho em lướt tới cùng,

Chiều đã về, trời đất mông lung,

Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng đêm sương.

Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió

Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình

Ðoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh

Sông bao nhiêu nước, dạ sầu bấy nhiêu!

Biến cố của Kinh thành Huế sau khi vua Tự Ðức (1829-1883) băng hà, để lại những rối ren trong nội bộ triều chính,[2]  được nhắc lại qua cao dao:

Một nhà sinh được ba vua[3]

Vua còn, vua mất vua thua chạy dài

Gẫm xem thế sự mà rầu

Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi           

Nhất giang lưỡng quốc nam phân thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường [4]

Thực dân Pháp đô hộ, triều đình Việt Nam mất hết uy quyền chỉ làm vì, thực quyền do thực dân và bọn tay sai cai trị, bóc lột tận xương tủy dân tộc. Các vua quan Việt Nam đều phẩn uất. Thành Thái bị phế, vua Hàm Nghi, Duy Tân đều muốn khởi nghĩa dành lại độc lập, nhưng đều thất bại. [5]

Vietnam-Hue-Perfume_RiverChiều chiều trên (trước) bến Văn Lâu

Ai ngồi ai câu, ai sầu, ai thảm

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non!

Sông Hương chảy đến chợ Ðông Ba chia làm ba nhánh, không kể sông Ðông Ba chảy dọc theo phía Ðông hoàng thành về Bao Vinh, một nhánh chảy về Gia Hội chợ Dinh, Bãi Dâu , một nhánh chảy dọc theo thôn Vĩ Dạ xuống ngã Ba Sình. Ở giữa hai nhánh nầy là Cồn Hến. Một nhánh khác chảy về Chợ Cống có Ðập Ðá ngăn lại.

Thuyền từ Ðông Ba, thuyền qua Ðập Ðá

Thuyền về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình

Lờ đờ bóng ngả chênh chênh

Gịong hò xa vọng, nhắn tình nước non

Thời thế ngửa nghiêng, Huế đôi lúc trở nên u buồn trầm mặc, sầu muộn trong thời tao loạn. Những biến đổi của cuộc đời, chỉ để lại cho con người giọt nước mắt thương đau

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự

Sầu vơi giọt lệ nước sông Hương

Nơi bến Trường Tiền có cây đa bóng mát,

Gần bến Bồ Ðề có bãi phẳng lì

Trời ơi! sang giặc làm chi

Ðể quân Trấn Vũ phải ra đi cơ hàn!

Ðêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng

Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,

Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn

Một mình em ngồi giữa sông Hương,

Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe!

Giới sĩ phu yêu nước một lòng chống lại chính quyền thuộc địa, thực dân, nhưng cũng không thiếu những người vì quyền lợi cá nhân làm tay sai cho giặc, để vinh thân phì gia

Ðất Thừa Thiên trai thanh gái lịch

Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng

Tháp bảy tầng, thánh miếu, chùa Ông

Trách ai hai dạ một lòng

Tham đồng bạc trắng phụ lòng dân đen!

Tình yêu với tổ quốc cũng như gia đình được truyền tụng, cao dao diễn tả lòng hiếu thảo của con cái đối cha mẹ ông bà.

Ðêm đêm khấn vái Phật,Trời

Cầu xin cha mẹ sống đời với con

Vô chùa thấy Phật muốn tu

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành

Lạy trời cho nổi gió nồm

Ðể cho chúa Nguyễn thuận buồm trẫy ra.

Con gái lúc trưởng thành lập gia đình, theo chồng đi về một vùng trời nào xa xăm tận  Quảng Nam… không quên nhìn mái nhà xưa thân yêu luyến tiếc tuổi thơ, xa gia đình theo quan niệm xưa “xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”

Ra đi ngó trước ngó sau,

Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều

Những trưa hè thanh vắng trong thành nội, vọng lại tiếng hát ru con à ời kéo dài âm thanh như lời dặn dò

Mạ ơi! chớ đánh con đau

Ðể con bắt ốc hái rau mẹ nhờ!

Ru con con thét cho muồi

Ðể mạ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh

Cá tôm mua tại chợ Sình

Triều Sơn bán nón, Bao Vinh bán đường

Con chim xanh xanh ăn trái xoài xanh

Ăn no tắm mát đậu ngành dâu da

Cực lòng em chẳng nói ra,

Chờ trăng trăng lặng chờ hoa hoa tàn…

Người Việt thường có phong tục thờ cúng tổ tiên, sống phụng dưỡng cha mẹ, ông bà trong đại gia đình, nguồn an ủi của tuổi già được sống bên con cháu có lòng hiếu thảo, chữ hiếu là căn bản đạo đức của nền văn hóa lâu đời. Các món ăn ngon, dâng ba mẹ dùng như tôm rằn, gạo vùng An Cựu nổi tiếng thơm ngon Theo định luật sinh tồn của tạo hóa con người phải chết, cha mẹ còn sống nếu con cháu có hiếu thảo là nguồn an ủi. Trông lên bàn thờ nhang tàn đèn tắt, cảm thấy nỗi buồn lắng đọng khi mẹ gìa khuất bóng:

hue1Ngó lên nhang tắt đèn lờ

Mẫu thân đâu vắng bàn thờ lạnh tanh!

Mẹ Già như chuối ba hương

Như xôi nếp luột (một), như đường mía lau

Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi

Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

Tình yêu là những rung động của hai tầng số tâm hồn gặp nhau, ca dao Huế đưa tình ca đó len lỏi vào lòng người, vượt thời gian tâm lý cũng như vật lý, tìm đến với tình yêu những phút giây đợi chờ, thương nhớ, hay giận hờn:

Ðường vô xứ Huế loanh quanh,

Non sông nước biếc như tranh họa đồ

Thương anh, em cũng muốn vô

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang [6]

Phá Tam giang ngày rày đã cạn,

Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm

Lời nguyện ước một lòng thủy chung, đá mòn theo thời gian xâm thực nhưng lòng người, tình yêu phải một lòng một dạ. Hạnh phúc không đánh đổi bằng tiền, không phải ở địa vị cao sang, hạnh phúc chính là ở chổ sống chung thủy bên nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Khi nào cạn nước Ðồng Nai

Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền!

Tay bưng dĩa nuối chấm gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,

Sông An Cựu nắng đục mưa trong,

Ðôi ta nguyện kết chữ đồng,

Ðá mòn sông cạn mà lòng thủy chung

Dãy dọc tòa ngang, giàu sang có số,

Kim Long, Nam Phổ, nước đổ về Sình

Hai đứa mình gá nghĩa ba sinh,

Dẫu có mần răng đi nữa, hai đứa mình không thể bỏ nhau

Ðôi ta kết nghĩa vợ chồng

Ðá mòn, sông cạn mà lòng thủy chung

Quoc hocSông nước thiên nhiên, cô gái chèo đò duyên dáng mái tóc thề dưới chiếc nón bài thơ. Phong cảnh nhân tình như một bức tranh đủ màu sắc, có sông hồ, có vườn, chùa, trái cây tươi ngọt

Thuyền về Ðại Lược

Duyên ngược Kim Long

Ðây là chỗ rẽ của lòng

Mai kia rồi biết trên sông bến nào?

Hồ Tĩnh Tâm giàu sen bạch diệp

Ðất Hương Cần ngọt quít thơm cam

Ai về Cầu ngói Thanh Toàn

Cho anh về với một đòan cho vui.

Ai về Cầu ngói Dạ Lê,

Cho em về với thăm quê bên chồng.                                                          

Ðố ai biết rít mấy chân

Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người

Ðông Ba, Gia Hội hai cầu

Có chùa Diệu Ðế bốn lầu hai chuông.

Nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, những ước mơ thầm kín thuyền tình cập bến yêu đương

Kim Long có gái mỹ miều,

Ta thương ta nhớ, ta liều ta đi!

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn,

Chèo qua Ngọc Trản, đến vạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương

Nỗi xót xa khi tình yêu bị chia ly, buồn cuộc đời dâu bể, cảnh vật đổi thay mỗi người một phương trời vô định

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược

Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang

DK 1Thuyền em xuống bến Thuận An

Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi                                                          

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn

Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng

Vàng trên tay rớt xuống không phiền,

Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu!

Em nói với anh như rìu chém xuống đá,

Như rựa chém, xuống đất, như mật rót vào tai.

Răng chừ  em lại nghe ai

Qua cầu nghiêng nón chạm vai không chào

Anh nói với em như rìu chém xuống đá

Như rạ chém, xuống đất, như mật rót vào tai.

Bây chừ anh lại nghe ai.

Bỏ em ở chốn non đoài thảm chưa

Chia tay nhưng vẫn mơ ngày hội ngộ, với số phận đẩy đưa trong bi thương và gợi cảm

Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp[7]

Anh qua rồi xin kịp về sau

Kẻo mai tê  bóng xế ngang cầu

Bạn còn thương bạn biết gửi sầu nơi mô mà tìm?

Cầu Trường Tiền sáu vai mười hai nhịp

Em theo không kịp

Tội lắm em anh ơi!

Bấy lâu mang tiếng chịu lời

Anh có xa em đi nữa

Cũng tại ông Trời nên xa

Cầu Trường Tiền bấy nhiêu niên (năm) qua lại,

Kể tự đời Thành Thái đến nay.

Chạnh lòng biết hỏi ai đây,

Việc chi nên nỗi đang tay dứt cầu?

Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội

Người xa người tội lắm người ơi

Thà rằng không biết thì thôi

Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn

Tập tục ngàn xưa dựng sẳn bức từng „môn đăng hộ đối“ một chướng ngại lớn lao viễn ảnh đen tối của ái tình! Quan niệm hôn nhân, cha mẹ đặt đâu còn ngồi đó, hôn nhân gượng ép, tình yêu đôi khi phải phó mặc cho định mệnh an bài.

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo

Sông An Cựu nắng đục mưa trong.

Ðôi ta như chỉ lộn vồng,

Nợ thì có nợ, vợ chồng không duyên

Bởi vì mẹ thầy lánh đục tìm trong

Cho nên duyên chàng, phận thiếp cứ long đong mãi hoài

Sự kỳ diệu của tạo hóa, màu nhiệm của định luật ràng buộc ái tình đưa đến hôn nhân, đàn bà cần các đức tính „công dung ngôn hạnh“ nhưng không thể thiếu lòng chung thủy.

DCP_6515Ðôi ta kết nghĩa vợ chồng

Ðá mòn, sông cạn mà lòng thủy chung

Ði đâu cho thiếp đi cùng

Ðói no thiếp chịu lạnh lùng có đôi

Lên non em cũng lên theo

Xuống thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền   

Ca dao là kho tàng văn chương bình dân vô giá, gợi lại hình ảnh xa xưa thời thơ ấu, sâu lắng  tâm tư để cho đời vơi bớt nỗi nhớ thương, sưởi ấm tâm hồn trong những ngày xa xứ…

Chim bay lưng trời mà còn có tổ

Cá lội giữa dòng vẫn có hố hang

Người đời đã có tổ-quốc giang-san

Tình thần ý chí phải nhịp nhàng với non sông

 

Nguyễn Quý Đại  2001

Tài liệu lịch sử

Cố Ðô Huế Tác giả Thái Văn Kiểm

Việt Nam Sử lược T.giả Trần Trọng Kim

Kinh Thi Việt Nam

Cao dao http://www.cadaovn.eu.tc


[1]/ Thời vua Tự Ðức để lại chiến công hiển hách, quân Pháp từ Thuận An tiến về Kinh thành Huế, bị quân triều đình mai phục bất thình lình đổ trái mù u ra mặt đường, giặc Pháp bị bất ngờ đạp trên trái mù u té, phục quân đổ ra đánh chém, giặc Pháp thua chạy dài, các hàng cây mù u xanh tươi của Xã Tắc còn đó, gợi lại niềm tự hào dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược.

[2]/ Các đại thần như Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và Tôn Thất Thuyết (1835-1913) đã chuyên quyền, cách chức ngự sử Phan Ðình Phùng (1844-18959, và  Ông Ích Khiêm. Trong bốn tháng kể từ ngày Tự Ðức mất triều đình phế lập ba vua. Vua Hàm Nghi trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngày 23.4.1885 thất bại bỏ Kinh thành và thảo hịch Cần Vương, bị bắt ngày 26.9.1888 đày sang Algérie

[3]/ (Kiên Thái Vương con thứ 26 vua Thiệu Trị có 5 trai hai gái, con đầu là vua Ðồng Khánh(1863-1888), con thứ ba là Kiến Phúc(1872-1943) mất, con thứ năm là Hàm Nghi (1872-1943)

[4]/ Ông Ích Khiêm (1840-1890) khảng khái ở trong ngục đã ngâm hai câu thơ trên, Sông Hương chia hai giòng nước, thì khó nói chuyện, một bên trong bên đục. Ngụ ý bờ bên kia là tòa Khâm xứ Pháp, bên nấy nầy thuộc Nam triều

Trong bốn tháng phế lập ba vua Dục Ðức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc

Hai chữ cuối của hai câu trên ám chỉ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tương

[5]/ Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân (1900-1945)  năm 1916 thất bại vua Duy Tân bị bắt ngày 6-5-1916 bị đày san đảo Réunion. Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên (1882-1916) cùng nhiều người yêu nước tham gia phong trào đều  bị tử hình tại pháp trường An Hòa gần Huế. Trong dân gian còn ghi nhớ, bến Văn Lâu nơi gặp gỡ của vua Duy Tân giả đi câu che sự theo dỏi của mật thám Pháp, bàn việc đại sự khởi nghĩa chống Tây

[6] / Truông là đồi cát có nhiều cây cối gọi là truông nhà Hồ địa danh Hồ Xá, Vĩnh Linh Quảng Trị thưở xa xưa nhiều toán cướp, cướp hành lý khách qua truông. Phá Tam Giang phá là hồ rộng lớn ở huyện Quảng Ðiền có 3 sông hợp lại Tả Giang,Trung giang, Hữu giang.

Chú thích thêm về các thổ ngữ của người Huế  Mẹ = mạ; ngó = nhìn ; ngủ muồi = ngủ cho ngon;  đi mô = đi đâu; mai tê = mai kia , răng chừ =  sao giờ; con rít = con rết; mần răng = làm sao; cái rạ = cái rựa..

[7] Cầu Trường Tiền dài 402,60 m; rộng 5,40m Năm Thành Thái thứ 9 (1897), chiếc cầu trên được nhà cầm quyền Pháp (khi ấy Khâm xứ Trung Kỳ là Levecque) giao cho hãng Eiffel (Pháp) thiết kế (do Gustave Eiffel thiết kế) và xây dựng lại bằng sắt, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vị vua Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 16 (1906), chiếc cầu mới được sửa chữa lại bằng xi măng cốt thép. Tổng chiều dài cây cầu là 401,10m, rộng 6,20m, có 6 vài, 12 nhịp, mỗi nhịp được thiết kế hình bán nguyệt. Và hình thức  này, vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay.
Đến năm 1937, cầu được mở rộng thêm hai hành lang ở hai bên, dành cho người đi bộ, xe đạp và những bao lơn (ban công) hình bán nguyệt được tạo ra ở 5 trụ cầu giữa 2 vai để có chỗ dừng chân, hay né tránh nhau. Trong  Tết Mậu Thân, trụ 3 và nhịp 7 bị phá
Từ năm 1991 đến 1995 xây lại hai nhịp cầu, đổi màu cầu từ màu dụ bạc sang màu lam, nên chiếc cầu không còn giống chiếc lược ngà và không còn lấp lánh dưới ánh mặt trời nữa. Tất cả các bao lơn cũng bị phá bỏ. Trước đây mặt cầu rộng 6m20, nhưng sau khi sửa chữa xong, chỉ còn 5m40, cho nên chỉ có xe loại nhỏ mới qua lại cầu được.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s