PHAN THANH GIẢN NỖI ĐAU TRĂM NĂM

cuphan2Từ thời lập quốc dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều gian khổ chống ngoại xâm giữ nước, dù bị ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm thuộc điạ cuả Pháp, Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập, tự do. Từ thời Cổ Đại khi Ngô Quyền (899 – 944) xưng vương năm 939, biên giới giữa nước ta và Chiêm Thành là dãy Hoành Sơn, nằm phiá nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Di tích lịch sử phần lớn ở miền Bắc là cái nôi văn hóa, để mở rộng bờ cõi về phiá nam vua Lê Đại Hành (970-†1005) đánh Chiêm Thành năm 982 (Nhâm ngọ).

Chiến tranh rồi cũng có lúc hiếu hòa qua cuộc hôn nhân Việt- Chiêm năm 1306 (Bính ngọ) vua Chế Mân (Simhavarman lll) cưới Huyền Trân Công Chúa, sính lễ là hai Châu Ô và Châu Rí (Lý) mở rộng tới Quảng Nam và các triều đại kế tiếp dần dần chiếm phần đất cuối cùng của Chiêm Thành…Chúa Nguyễn nghĩ đến vùng đồng bằng Chân Lạp (Chen-La Cambodia). Năm 1620 Sãi Vương gả công chúa thứ 2 Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey-Chetta ll, cũng vì nhu cầu đất đai mở rộng biên giới. Qua nhiều lần tranh chấp nội bộ người Chân Lạp gây chiến tranh với Việt Nam, người Việt đã chiến thắng, từ năm 1757(Đinh sửu) cương thổ nước ta chính thức được hình thành cho tới ngày nay[1]

Trong cuộc Nam tiến những đợt di dân từ miền ngoài đến miền Nam khai phá rừng hoang, lập nên ruộng đồng, làng mạc, nhờ phù sa sông Cửu Long nên ruộng đất phì nhiêu sản xuất nhiều lúa gạo là vựa lúa nuôi sống miền Nam giữ một vài trò vô cùng quan trọng trong nông nghiệp. Nhờ phong thổ, khí hậu sông nước, làm chơi ăn thiệt nên đời sống người miền Nam phóng khoáng và giọng nói cũng nhẹ nhàng hơn, văn học từ đó cũng phát triển theo mang những nét đặc thù qua thi ca, hò nam bộ, cãi lương, ca vọng cổ … đóng góp cho văn học nước nhà thêm phong phú. Thời xa xưa các bậc khoa bảng đều xuất thân ở miền Trung và Bắc, vì thời đó phương tiện lưu thông chưa phát triển. Từ miền Nam muốn dự các kỳ thi phải về Kinh Đô Huế đường xá xa xôi. Phan Thanh Giản là người đầu tiên đậu tiến sĩ xuất thân từ miền Nam, cũng là người mang nỗi đau vì để mất các tỉnh miền Nam vào tay thực dân Pháp, chết cũng không yên bị đục bia tiến sĩ, cách chức rồi phục hồi danh dự, Từ năm 1975 hai trường trung học mang tên Phan Thanh Giản ở Cần Thơ và Đà Nẵng đều bị đổi tên? Để trả lại sự thật cho lịch sử, chúng ta có bổn phận phải chia xẻ nỗi đau của Phan Thanh Giản dù ngài đã mất cách đây 145 năm (1867-2012).

Cuộc đời cụ Phan Thanh Giản   

Phan Thanh Giản lên 7 tuổi mất mẹ, theo thân phụ ông Phan Thanh Ngạn (làm chức thủ hạp, quan nhỏ nhưng thanh liêm) về sống nhờ bên ngoại, Dù bên ngoại không giàu, nhưng có tấm lòng thương yêu và đùm bọc, khi Phan Thanh Giản 19 tuổi (1815) thân phụ bị bắt vì bị nghi ngờ ăn hối lộ? Nhưng ông hiểu cha mình người thanh liêm gặp nạn! ông thường thăm viếng lo cho thân phụ đến ngày mãn hạn tù. Ông Lương Quan Hiệp trấn ở Vĩnh Long thấy nhân cách và trí thông minh, hiếu thảo ham học của Phan Thanh Giản, đề nghị với thân phụ cho Phan Thanh Giản theo học với Đốc học Võ Trường Nhơn (1816). Năm 1825 Minh Mạng thứ 6, Phan Thanh Giản đậu cử nhân, trong khoa thi Hương ở Gia Định, do mẹ nuôi bà quả phụ Nguyễn Thị Ân giúp tiền ăn học, năm sau 1826 ra Huế thi Đình và đậu tiến sĩ niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826).

Phan Thanh Giản tự là Tĩnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, người xã Bảo Thạnh, Bảo An, trấn Vĩnh Thanh (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trước năn 1975), Phan Thanh Giản làm quan nhận chức Hàn Lâm Viện Biên Tu đến năm 1828 Minh Mạng thứ 8, thăng chức quan đại thần phục vụ qua nhiều đời vua triều Nguyễn. Phan Thanh Giản là người có những đức tính „nhẫn nhục, chịu đựng“ từng giữ các chức vụ quan trọng như thượng thư Bộ Lễ, Bộ Hình, Bộ Hộ, làm Hiệp biện Đại học sĩ, làm quan trải qua 3 đời vua: Minh Mạng (trị vì 1820-†1841), Thiệu Trị (trị vì 1841-†1847), Tự Đức (trị vì 1847-†1883). Ông từng được cử đi sứ Trung hoa, Indonesia, Singapore, Pháp, Tây Ban Nha phải gánh chịu nỗi đau trăm năm sau khi bị mất các tỉnh miền Nam. Phan Thanh Giản cũng như Nguyễn Trường Tộ nhiều lần dâng sớ lên nhà vua xin canh tân đất nước. Triều đình nhà Nguyễn tự giam mình trong những giáo lý của Thánh hiền, quay lưng lại với mọi trào lưu tiến hoá trên thế giới, khước từ mọi đề nghị canh tân đất nước của những trí thức yêu nước cấp tiến. Vua và triều thần đều không nghe, trong khi Xiêm (Thái Lan) từ năm 1855 ký hòa ước với Anh Quốc, năm 1856 ký hoà ước với Mỹ cho người Tây Phương vào buôn bán, nợp thuế và tự do truyền giáo…Thái Lan giữ được độc lập không có chiến tranh xảy ra. Nên Phan Thanh Giản chỉ biết để lại những vần thơ với nỗi buồn man mát.

Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh

Thấy việc Âu Châu phải giật mình

Kêu rú đồng ban mau thức dậy

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin

Biến cố lịch sử

GiadinhGiữa thế kỷ 19 quân Pháp đánh phá cửa biển Đà Nẵng, rồi kéo quân vào Gia định. Ngày 25.2.1861 liên quân Pháp, Tây Ban Nha đánh đồn Kỳ Hòa, đồn nầy có thành lũy kiên cố, do đại thần Nguyễn Tri Phương (1800-†1873) chỉ huy 12.000 ngàn quân binh chiến đấu quyết liệt, nhưng vì còn sử dụng vũ khí thô sơ súng lỗi thời như súng Hỏa Mai phải châm ngòi, súng trường Điểu Thương bắn từng phát, không thể đối đầu với liên quân Pháp và Tây Ban Nha vũ khí tối tân đại bác, chiến hạm chạy nhanh. Nguyễn Tri Phương bị thương, đại đồn Kỳ Hòa giữ được 4 ngày bị thất thủ, Pháp chiếm Gia Định. Ngày 12.4.1861 lấy Mỹ Tho, đại thần Nguyễn Bá Nghi thay thế Nguyễn Tri Phương, nhận thấy không thể đối đầu với địch quân, nên dâng sớ xin nghị hoà! Triều đình chưa có chính sách đối ngoại, các quan chủ chiến nhiều hơn muốn đánh Tây ra khỏi bờ cõi, nhưng quân binh vũ khí không đủ. Triều đình ra lệnh cho Nguyển Bá Nghi (1807-1870) tự giải quyết và ngầm giúp những sĩ dân yêu nước Nam Kỳ đứng lên kháng chiến chống Tây, trong đó cuộc nổi dậy của Trương Công Định đã làm cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại.

Liên quân Pháp không dừng chân trên những vùng đã chiếm đóng, tiếp tục chiếm các vùng như: Biên Hòa ngày 15.2.1861, Bà Riạ ngày 8.1.1862. Triều đình Huế không đủ quân số để tái chiếm các vùng bị mất, thế địch mạnh làm chủ tinh hình các vùng đất phì nhiêu, tịch thu lúa gạo, tài nguyên quốc gia. Triều đình Huế mất gần hết nguồn lương thực từ miền Nam. Quân Pháp chiếm nhiều điạ phận lớn quân số không đủ để kiểm soát, chưa được sự ủng hộ của người dân, nên họ muốn dừng chân để đặc nền thống trị. Phó đề đốc Luis Bonard cử trung tá hải quân Simon ra Thuận An bàn chuyện thương thuyết với triều đình Huế, hai bên đồng ý. Triều đình cử Phan Thanh Giản chánh sứ và Lâm Duy Hiệp làm phó sứ, toàn quyền đại thần vào Gia Định nghị hòa. Triều đình trao 2 cái gông vào cổ hai vị quan đi lo việc nước! Cuộc thương thuyết kéo dài 20 ngày và ký kết hòa ước Nhâm Tuất (1862) phải nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường và Biên Hòa) Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp phải ký một hiệp ước bất đắc dĩ, không thể cưỡng lại được, để nhận trách nhiệm có tội với vua, với dân tộc để tiếng xấu với muôn đời. Thực dân Pháp ở thế chiến thắng, trong khi đại diện cho triều đình người đàm phán thuộc phái yếu không thể đòi hỏi nào hơn! Nguyễn Trường Tộ đã ví thực dân Pháp như „con khủng long thấy đầm nước không lùi bước“, như „con mèo thấy mỡ“ không bao giờ có ý định bỏ đi

Hòa ước Nhâm Tuất gồm 12 khoản ký ngày 05-06-1862 tại Sài Gòn. Kèm theo điều kiện là triều đình Huế phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 Hiệp ước)…Tất cả các điều khỏan trên về phiá Việt Nam đều bị thiệt hại [2] Nam Kỳ chỉ còn lại ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Hòa ước không được triều đình hoan nghênh, vua Tự Đức phê chuẩn, quở trách Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp và cho rằng hai viên quan nầy “không những là người có tội với triều đình nhà Nguyễn, mà còn mắc tội đối với muôn đời vậy!“

Lâm Duy Hiệp bị cách chức làm tuần phủ Thuận Khánh, cuộc đời ông trôi qua cùng dòng lịch sử đau thương của đất nước và tạ thế năm 1963. Phan Thanh Giản bị đổi xuống làm Tổng đốc Vĩnh Long để có cơ hội thương thuyết với Pháp! Năm 1863 ông được cử làm Khâm Mạng Đại Thần chánh sứ, cùng phó sứ Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản, sang Pháp nghị hòa xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhưng không có kết qủa. A. Schreiner đã đưa ra một sự phê phán rằng: “Những người An Nam đi thương thuyết họ đã quên một hệ quả cốt yếu của chiến tranh là kẻ chiến bại không được phép đòi hỏi lợi lộc.” (Le négociateur annamite feignait ignorer une conséquence essentielle de la guerre, que le vaincu ne saurait reclaimer des avantages)[3]

Pháp tiếp tục uy hiếp ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cũng như Bắc Kỳ. Phan Thanh Giản tuổi già sức yếu nhiều lần xin về hưu đều bị vua Tự Đức từ chối, tiếp tục giao ông chức Kinh Lược Đại Thần, đóng ở Vĩnh Long để đối đầu với  thực dân Pháp.  Phan Thanh Giản đau lòng trước sự thất bại từ các cuộc nổi dậy của sĩ phu và quân dân Nam Kỳ chống Pháp như Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân năm 1864, đời sống người dân càng ngày thêm nghèo đói vì chiến tranh. De la Grandière có kế họach chiếm ba tỉnh Nam Kỳ viện lý do chính quyền ba tỉnh nầy che chở cung cấp vũ khí cho quân nổi dậy chống Pháp. Quân Pháp rời Sài Gòn ngày 15.6.1867 với lực lượng gồm chín pháo hạm, tám vận tải hạm 1.200 quân và 400 lính tập đi đường biển đến Mỹ Tho rồi từ đó ngược sông Cửu Long đến Vĩnh Long xuôi nam mượn đường sông sang Campuchia rồi chiếm các thành: ngày 20.6.1867 đến Vĩnh Long, chúng đem chiến thuyền Ondine đến áp sát thành, lợi dụng thái độ ôn hòa của Phan Thanh Giản đưa thư buộc ông nhường ba tỉnh miền Tây, xuống tàu thương nghị Phan Thanh Giản trên đôi vai gầy, trong tay không vũ khí trả lời với De la Grandière „Ta chỉ có quyền giữ đất chứ không có quyền giao đất“. Ông rời tàu về thành không còn, quân Pháp đã chiếm thành Vĩnh Long. Sau đó buộc Phan Thanh Giản viết thư giao các thành còn lại, ông đành nhượng bộ để tránh đổ máu vô ích, không muốn lùa đàn dê vào miệng cọp. Ông chỉ yêu cầu Pháp đừng giết hại dân lành và để của trong kho lại cho triều đình Huế.Pháp chiếm An Giang 22.6.1867 và Hà Tiên 24.6.1867. Phan Thanh Giản thất bại bang giao trước vũ lực, bằng đại bác, pháo thuyền của bọn thực dân. Ông viết biểu trần tình dâng lên vua Tự Đức, tuyệt thực và uống thuốc độc qua đời ngày 05.7.1876.

PTGNam Kỳ đã mất về tay Pháp, các cuộc kháng Pháp vẫn tiếp diễn khắp nơi. Pháp biết Việt Nam suy yếu về quân sự cũng như ý chí, nên tấn công Bắc Kỳ. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ I (1873), Nguyễn Tri Phương bị thương, nhịn đói chịu đau mà chết, con là phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Phần lớn các tỉnh lân cận đều lần lượt lọt vào tay Pháp. Ngày 15.3.1874, triều đình Huế ký với Pháp hòa ước Giáp Tuất, liên quan tới Bắc thành, nhưng cuối cùng Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882), tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Ai là người chịu trách nhiệm để mất các tỉnh Bắc kỳ?

Điều phi lý vua Tự Đức và triều đình đổ hết lỗi cho Phan Thanh Giản để mất Nam Kỳ lục tỉnh, kết tội Phan Thanh Giản “xét phải tội chết, chưa đủ che được tội “ và nghị án “truy đoạt lại chức hàm và đục bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trạm giam hậu“. Đến năm 1886 vua Đồng Khánh lại “khai phục nguyên hàm” và khắc lại tên ông ở bia tiến sĩ. Cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu (1822-†1888) nổi tiếng với tác phẩm Lục Văn Tiên, và những bài Văn tế… ông không cộng tác với bọn quan lại thực dân Pháp, thương tiếc Phan Thanh Giản qua bài thơ điếu:

Non nước tan tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cõi Giao Châu
Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu
Trạm bắc ngày trông tin nhạn vắng
Thành nam đêm quạnh tiếng chim sầu
Minh tinh chín chữ lòng son tạc
Trời đất từ đây mịt gió thu

Qua những biến cố lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam, để tưởng nhớ vị đại thần đã hy sinh tính mạng, giữ trọn lòng trung với vua, không hợp tác với Pháp. Phan Thanh Giản là người có công hơn là có tội với đất nước. Thời Việt Nam Cộng Hòa hai trường trung học Cần Thơ và Đà Nẵng lấy tên Phan Thanh Giản để con cháu noi gương ngài, học tập tốt nên người hữu ích cho đất nước. Không hiểu tại sao? sau năm 1975 nhà cầm quyền CSVN xóa tên đường, tên trường, tại Đà Nẵng trường tư thục Phan Thanh Giản bị tịch thu và đổi tên thành trường Lê Hồng Phong rồi Lê Quý Đôn. Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ đổi thành trường Châu Văn Liêm tên của một cán bộ cộng sản ít người biết đến. CSVN có thể xóa tên trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng, Cần Thơ, nhưng không thể và không thể xóa bỏ lòng ngưỡng mộ và tự hào về tên trường ra khỏi trái tim của các cựu học sinh hai trường mang tên Phan Thanh Giản. Những Hội ái hữu cựu học sinh Phan Thanh Giản hoạt động mạnh ở hải ngoại, tinh thần Phan Thanh Giản luôn luôn được vinh danh một cách trân trọng.

Dân tộc VN chắc chắn không nên và không thể gán cho Phan Thanh Giản cái tội “bán nước” hay “phản bội tổ quốc”. Cái tội bán nước làm mất đi một phần lãnh thổ, lãnh hải các quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, cũng như Công hàm của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi cho Trung cộng. .. đó là hành động bán nước, phản dân tộc của tập đoàn cộng sản Việt Nam.

Phan Thanh Giản là quan đại thần yêu nước thương dân, nhưng cuối đời lâm vào cảnh bế tắc, bi kịch trong một bối cảnh gian truân và đau thương của đất nước. Phan Thanh Giản được người đời kính trọng vì tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm. Trong cơn nước biến, thái độ ôn hòa của ông đã khiến một số người không đồng tình, nhưng thời ấy, ông đã lớn tuổi thế nước yếu không thể nào làm khác hơn. Chúng ta phải thành kính ngưỡng mộ tinh thần PTG làm việc tận tụy, hy sinh phục vụ quyền lợi dân tộc, tấm gương Phan Thanh Giản sáng ngời mãi với thiên thu…

Nguyễn Quý Đại       Mùa Phục Sinh 2012

Tài liệu tham khảo

Hình trên Internet và Bộ Việt Sử Đại Cương (tập 3) của nhà văn Trần Gia Phụng


[1] theo tài liệu những câu chuyện lịch sử tập 2 của Trần Gia Phụng

[2] Chánh sứ Phan Thanh Gian và phó sứ Lâm Duy Hiệp đại diện của Pháp la Bonard, đại diện của Tây Ban Nha la Guttiere sau khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Ky Đây là hiệp ước đầu tiên của triều Nguyễn ký với nước ngoài và mở đầu cho sự đô hộ của Pháp ở Việt Nam, từ khi Gia Long thống nhất sơn Hà

 Gồm 12 điều khoản, với những điểm chính như sau: Ở Việt Nam, giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha được tự do truyền đạo và dân Việt Nam được tự do theo đạo (điều 2) Việt Nam nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn, tàu buôn Pháp và Tây Ban Nha được tự do đi lại trên sông Cửu Long (điều 3); Việt Nam chỉ được nhượng đất cho nước khác với sự ưng thuận của hoàng đế Pháp (điều 4); người Pháp và Tây Ban Nha được quyền đến buôn bán ở Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên, ngược lại người Việt Nam được tự do buôn bán ở hải cảng hai nước đó (điều 5), Việt Nam phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha 4 triệu đồng chiến phí trong vòng 10 năm. Mỗi đồng được tình bằng 72% lượng bạc (điều 8) …..

* Sự tự do theo đạo Thiên Chúa sẽ được ban hành trên toàn cõi nước Nam.
* Ba tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Sơn được nhượng cho Pháp. Nước Nam không được ngăn trở tàu buôn Pháp mượn đường sang buôn bán với Cao Miên.
* Mở ba cửa khẩu, trong ấy có Đà Nẵng, cho tàu buôn Pháp và Tây Ban Nha đến buôn bán.
* Nước Nam không được nhượng đất cho cường quốc nào khác.
* Đền chiến phí, 4 triệu đồng tiền bạc Mễ Tây Cơ cho Pháp và Tây Ban Nha.
* Người Pháp bằng lòng trả lại tỉnh Vĩnh Long cho xứ Nam, không tham dự vào việc riêng của xứ này.  Triều đình Huế phải gọi ngay các quan mà triều đình đã phái đi từ trước hay trong thời kỳ chiến tranh để điều khiển các cuộc hành binh trả thù, hiện đang lẩn trốn ở các huyện bị chiếm đóng. Phải theo đúng điều kiện này Pháp mới trả lại Vĩnh Long.
Sứ bộ lai triều Tự Đức xem qua hoà ước nổi giận :”Hai ngươi không những là tội nhân của triều đình, mà còn là tội nhân của muôn đời hậu thế. Tội các ngươi đáng phạt nặng, nhưng nghĩ việc thương nghị ta coi như chưa thành, nay ta chỉ dụ cho Phan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm tuần-vũ Thuận Khánh, để giao tiếp với người Pháp, tìm cách uốn nắn những lầm lỗi trong hoà ước mà các ngươi đã phạm phải.”

[3] A.Schreiner, Abrégé de l’ Histoire d’ Annam, trang, 207, 208, nhà xuất bản Chez l’Auteur, Sài Gòn, 1906).

 Nguyễn Bá Nghi (1807-†1870)  đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1831), đỗ Phó bảng năm Nhâm Thìn (1832), là người đỗ đại khoa đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi. Ông làm quan triều Nguyễn, từng giữ nhiều trọng trách: Khâm sai đại thần, Thượng thư, Tổng đốc, Kinh diên giảng quan, Cơ mật viện Đại thần,… Đường hoạn lộ của Nguyễn Bá Nghi kéo dài gần 40 năm, trải khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam

Lâm Duy Hiệp (1828-†1863) sinh tại thôn An Nhơn,tỉnh Bình Định, thuở nhỏ ông có tiếng là thông minh, nhanh nhẹn. Năm 1828 đời Minh Mạng ông thi đỗ cử nhân được bổ làm tri huyện, rồi tri phủ…..

Năm 1837 ông được thăng thị độc học sĩ sung tham biện việc Nội các, rồi cất lên làm thị lang vẫn sung tham biện việc Nội các. Năm 1858 ông làm Cơ mật viện , làm thượng thư. Năm 1862 được nhà vua cử làm phó sứ Lâm Duy Hiệp vào Gia Định  bàn việc hòa giải với thực dân Pháp. Việc không như mong đợi (bị mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị bồi thường chiến phí), ông và chánh sứ Phan Thanh Giản đều bị vua Tự Đức khiển trách nặng nề,

Nguyễn Tri Phương (1800-†1873). Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lạiquân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858),  Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Nguyễn Tri Phương đã chủ trương xây dựng đồn Chí Hoà (về sau người Pháp gọi là Kỳ Hòa) để bao vây, bức rút quân Pháp. Tuy nhiên, sau vào ngày 25 tháng 10 năm 1861, quân Pháp đã tiến hành công phá đại đồn. Ông chỉ huy quân lính chống cự quyết liệt nhưng rồi bị thương, đại đồn thất thủ, Gia Định bị chiếm. Em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận, ông bị cách chức xuống làm Tham tri, mãi đến năm sau cử  làm Binh bộ Thượng thư ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ, thăng chức Võ Hiển Đại học sĩ, tước Tráng Liệt Bá. Năm Nhâm thân (1872), lại được điều về giữ chức Tuyên sát đổng sức đại thần, thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở  Bắc Kỳ, tập hợp lực lượng để chống sự bành trướng của quân đội Pháp. Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa” Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào 20.12.1873 thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Vua Tự Đức soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s