GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

image003Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Khắp miền truyền mãi câu ca

Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.

Sơ lược về nguồn gốc dựng nước của Người Việt

Tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần về phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam) gặp nàng tiên xinh đẹp lấy nhau, sinh ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi là vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục (祿續) làm vua phương nam xưng là Kinh Dương Vương 涇陽王 quốc hiệu là Xích Qủi 赤鬼.  Bờ cõi nước Xích Qủi bấy giờ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.

Di tích lịch sử ở thôn An Lữ (Á Lữ), xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) có khu đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương là thủy tổ của người Việt. Bên trong hậu cung đền có ba ngai thờ: Ngai Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên phải, ngai Âu Cơ đặt ở bên trái. Ngoài các đồ thờ cúng, đền có lưu giữ 15 đạo sắc phong thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương bằng chữ Hán, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33, tạm dịch là: “Xã Á Lữ từ lâu phụng thờ đền Kinh Dương Vương, vị vua khai sáng văn minh, thánh của người Việt“.

Kinh Dương Vương làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Ðộng Ðình, sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân, lấy con gái Ðế Lai là bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con là tổ tiên của người Bách Việt. Một hôm nhà vua bảo bà Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”  Đề nghị chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển. Lạc Long Quân phong cho con trưởng là Hùng Vương nối ngôi đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ:

Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú)

Châu Diên (Sơn Tây).

Phúc Lộc (Sơn Tây ) .

Tân Hưng (Hưng Hoá-Tuyên Quang).

Vũ Ðịnh (Thái Nguyên-Cao Bằng) .

Vũ Ninh (Bắc Ninh).

Lục Hải (Lạng Sơn).

Ninh Hải (Quảng Yên).

Dương Tuyền (Hải Dương).

Giao chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình).

Cửu Chân (Thanh Hoá).

Hoài Hoan (Nghệ An).

Cửu Ðức (Hà Tĩnh).

Việt Thường (Quảng Bình-Quảng Trị).

Bình Văn ( ? )

Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, các quan nhỏ gọi là Bồ chính. Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quý Mão (285 trước CN) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, (sơ đồ theo trang Quốc Văn Sài Gòn)

Hùng Vương

Tên húy

Trị vì[1]

Lục Dương Vương

Kinh Dương Vương, Hùng Dương hay Lộc Tục

3054-2839 TCN[cần dẫn nguồn]

Hùng Hiền Vương

Lạc Long Quân, Hùng Hiền hay Sùng Lãm

Trị vì từ năm 2839-2439 TCN, có nhiều đời vua đều xưng là Hùng Hiền Vương

Hùng Quốc Vương

Lân Lang

Trị vì từ 2439-2218 TCN gồm nhiều đời vua, đều xưng là Hùng Quốc Vương

Hùng Diệp Vương

Bảo Lang

Gồm nhiều vua Trị vì từ 2218-1918 TCN, đều xưng Hùng Diệp Vương

Hùng Hy Vương

Viên Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1918-1718 TCN, đều xưng Hùng Hy Vương

Hùng Huy Vương

Pháp Hải Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1718-1631 TCN, đều xưng Hùng Huy Vương

Hùng Chiêu Vương

Lang Liêu

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1631-1431 TCN, đều xưng Hùng CHiêu Vương

Hùng Vi Vương

Thừa Vân Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1431-1331 TCN, đều xưng Hùng Vi Vương

Hùng Định Vương

Quân Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1331-1251 TCN, đều xưng Hùng Định Vương

Hùng Nghi Vương

Hùng Hải Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1251-1161 TCN đều xưng Hùng Nghi Vương

Hùng Trinh Vương

Hưng Đức Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1161-1054 TCN đều xưng Hùng Trinh Vương

Hùng Vũ Vương

Đức Hiền Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 1054-958 TCN đều xưng Hùng Vũ Vương

Hùng Việt Vương

Tuấn Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 958-853 TCN, đều xưng Hùng Việt Vương

Hùng Anh Vương

Chân Nhân Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 853-754 TCN, đều xưng Hùng Anh Vương

Hùng Triệu Vương

Cảnh Chiêu Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 754-660 TCN, đều xưng Hùng Triệu Vương

Hùng Tạo Vương

Đức Quân Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 660-568 TCN, đều xưng Hùng Tạo Vương

Hùng Nghi Vương

Bảo Quang Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 568-408 TCN, đều xưng Hùng Nghi Vương

Hùng Duệ Vương

Huệ Lang

Gồm nhiều đời vua trị vì từ 408-258 TCN, đều xưng Hùng Duệ Vương

Từ ngày lập quốc bị nhiều phen ngoại bang đô hộ, sử sách bị đốt, thất lạc “thương hải biến vi tang điền”, tìm tài liệu tra cứu rất khó. Nhưng không thể nghi ngờ được nguồn gốc văn minh Việt tộc.Truyền thuyết Hùng Vương ghi lại từ cuối thế kỷ thứ 14, Sử quan Ngô Sĩ Liên 吳士連 ( ?- 1442) biên soạn Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư hoàn thành năm 1479 chính thức vinh danh các đời vua Hùng Vương trong Quốc Sử, ghi nhận các đời vua Hùng Vương có công dựng nước. Từ đời nhà Lê soạn thảo luật Hồng Ðức (1470-†1497) bộ luật nầy là sự hoàn chỉnh các luật căn bản từ thời dựng nước qua các căn bản chính như: Ðức trị, Nhân trị và Pháp trị mãi cho đến chương trình Luật trước năm 1975 còn dùng luật nầy để đối chiếu. Ðó là bộ Quốc Triều Hình Luật nhả Hậu Lê , được soạn từ đời Lê Lợi (1428) mãi đến đời Lê Thánh Tôn (1460-1468) sau đó là Hồng Ðức (1470-†1497) . Theo sử sách như vậy về luật pháp của Việt Nam có những văn bản trên bình diện Quốc Gia, về Nhân bản và Nhân đạo trước đó hơn 300 năm. Thế giới Tây phương văn minh tiến bộ sống theo luật pháp, nhưng luật Dân quyền Anh Quốc ra đời năm 1689, Tuyên ngôn nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 và luật Dân Quyền Hoa Kỳ 1791…

Nhiều Sử Gia đã nghi ngờ về Họ Hồng Bàng không có thật? Sử quan Ngô sĩ Liên đã đưa chuyện thần thoại hoang đường vào chính sử. (như chuyện Phù Ðổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thuỷ Tinh..v. v.). Nếu chúng ta xét theo sự phát triển của khoa học để soi lại dấu chân lịch sử lắm nhiều hoài nghi về nguồn gốc văn minh của thời đồ đá. Con người vốn do Thượng Ðế tạo dựng không thể sinh ra từ trứng? Nếu lấy khoa học để xét lại những truyền thuyết , chuyện hoang đường.. thì lợi bất cập hại, làm mất cái hay cái đẹp của huyền sử mang nhiều ý nghiã cao qúy , một niềm tự hào của Tổ Tiên .

Dù là huyền thọai, nhưng bao gồm triết lý sống làm nền tảng từ thời sơ khai trong tinh thần và tâm linh, luôn là căn bản trong tình đoàn kết và tự hào dân tộc qua nhiều thế hệ. Tổ tiên đã hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước tồn tại đến ngày nay, Ðiạ lý nước Việt Nam “biên giới từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau “. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam làm mất ải Nam Quan một phần lãnh hải, lãnh thổ biên giới là phản bội Dân tộc và Tổ tiên, truyền thuyết dẫn chứng nguồn gốc chúng ta là Con Rồng Cháu Tiên tuy không đúng với khoa học. Nhưng mỗi dân tộc đều có quyền ca tụng Tổ Tiên của mình “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

Người Nhật tự hào nguồn gốc dân tộc họ là Thái Dương Thần Nữ? Ngày nay Nhật Bản tiến bộ về khoa học nhất tại Á Châu, nhưng họ không đặt vấn đề chứng minh nguồn gốc văn minh cuả Thái Dương Thần Nữ. Việc dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng qua những giai đoạn còn phôi thai đầu tiên của Việt Nam. Dù mới hình thành nhưng được lòng người, từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng bào ruột thịt, quan hệ giữa thiên nhiên và con người, thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ gìn bản làng, đất nước. „Xã hội Việt tộc nguyên thủy kết hợp với nhau bằng Tâm cư xử với nhau bằng Ðức“. Ðền Hùng Vương ở Lâm Thao tỉnh Phú Thọ xây từ 250 năm trước tây lịch. Thuộc thời Thục An Dương Vương, xây để tưởng nhớ công đức của các thế hệ dựng nước Văn Lang. Từ đó đến nay hơn 2251 năm, lịch sử nước Việt Nam trải qua những lần Bắc thuộc :

Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước công nguyên ) nhà Triệu, nhà Hán
Bắc thuộc lần thứ hai (40 -541) nhà Đông Hán, Đông Ngô Tào, Nguỵ, Tần..
Bắc thuộc lần thứ Ba (603-939) nhà Tuỳ, nhà Đường
Trong giai đoạn  tự chủ (905-938) có một thời gian rơi vào tay Nam Hán.

Bắc thuộc lần thứ tư (1407-1427) nhà Minh

Quốc Hiệu

Ðại Cồ Việt 968 (mậu tìn) Ðinh Tiên Hoàng

Ðại Việt 1054(giáp ngọ) Lý Thánh Tông

Ðại Ngu 1400(canh thìn) Hồ Quý Ly

Ðại Việt 1428(mậu thân) Lê Thái Tổ

Việt Nam 1804 (giáp tý) Gia Long

Ðại Nam 1838 (mậu tuất) Minh mạng

Việt Nam 1945(ất dậu) Bảo Ðại
Các giai đoạn kháng chiến của tổ tiên

Lần thứ nhất, kháng Tống năm 981 của vua Lê Ðại Hành (980-†1005)
Lần thứ nhì, kháng Tống năm 1076 nhà Tống xâm lăng bị Lý Thường Kiệt(1019-†1059 đánh bại ở sông Như Nguyệt (Bắc Ninh)
Lần thứ ba, tư và năm, kháng Nguyên các năm 1257, 1284 và 1287 nhờ lòng quyết chiến của Hội Nghị Diên Hồng năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông(1240-†1290) triệu họp các bô lão cả nước để trưng cầu dân ý, nên hòa hay chiến chống lại quân Nguyên Mông sang xâm lược. Được toàn dân ủng hộ các dũng tướng Trần Thủ Ðộ, (1194†1264) Trần Bình Trọng (1259-†1295) cùng quân dân hy sinh xương máu bảo vệ độc lập đẩy lui đoàn quân bách chiến bách thắng của Thành Cát Tư Hãn 成吉思汗
Lần thứ sáu, kháng Minh vì có sự thay đổi Hồ quý Ly (1336-†1407) lật đổ nhà Trần. Quân nhà Minh lợi dụng cơ hội đem quân sang đánh chiếm. Phải mất 10 năm Lê Lợi (1385-†1433) kháng chiến chống lại quân Minh dành lại Ðộc lập.
Lần thứ bảy, kháng Thanh năm 1789 Quang Trung (1753-†1792) đánh bại vua Lê Chiêu Thống (1786-1788) chạy sang Tàu cầu cứu. Nhà Thanh đưa quân sang chiếm nước ta,  bị vua Quang Trung đánh bại vào mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789 giải phóng Thăng Long và giữ vững bờ cõi Việt Nam….
Lần thứ tám, chống thực dân Pháp từ năm 1884 cho đến ngày dành lại độc lập năm 1945. Sau hiệp định Genève (20.7.1954). Hoa Kỳ quyết định ủng hộ VNCH để chận đứng làn sóng cộng sản quốc tế Nga-Hoa.

Ngày 08.03.1965, tiểu đòan 3 thuỷ quân lục chiến thuộc lữ đoàn 9 Hoa Kỳ đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Xuân Thiều (Nam Ô) thuộc xã Hoà Hiệp, huyện Hoà Vang nay thuộc quận Liên Chiểu Đà Nẵng, cùng ngày tiểu đoàn thứ 2 được không vận từ Nhật đến sân bay Đà Nẵng. Sau đó hơn nửa triệu quân Đồng Minh vào Việt Nam giúp VNCH chống cộng sản. Cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm khoái lửa, bom đạn tàn phá quê hương, Người Mỹ vì quyền lợi của nước Mỹ nên ký Hiệp định Paris ngày 07.01.1973 Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, những đơn vị cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ rời Nam Việt Nam vào ngày 29.3.1973 bỏ mặc người bạn đồng minh VNCH cho đến ngày bức tử 30.4.1975. Theo triết gia Kim Định “ngày 30/4/1975 không chỉ là cái tang của người Việt Nam, mà còn có thể nói là cái tang chung của nhân loại để tiếc thương cái chết của mẫu người cần thiết cho bất cứ nước nào, dân nào không muốn mang vào đầu cổ cái tròng làm trâu, làm ngựa“. lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan sau là Tổng Thống ” …. Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home.  Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation’s Viet Nam borned .” … Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau.”

Hàng năm tưởng nhớ Tổ Tiên người đựng nước, toàn dân Việt Nam làm giỗ Tổ, nhằm mùng 10 tháng 3 Âm Lịch, thường gọi là Hội Ðền Hùng hay ngày giỗ tổ Hùng Vương, một lễ trọng đại Việt Nam vì bao hàm Tổ Quốc mà luôn cả Tổ Tiên, ca dao truyền tụng trong Dân gian.

Tháng Giêng ăn tết ở nhà
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba

Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta khi ấy tên là Văn Lang.

Giỗ Tổ Hùng Vương không phải chỉ để đề cao niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo bản sắc dân tộc cũng như chúng ta có thể phải làm gì để mang lại những ích lợi cho cộng đồng, cho dân tộc. Tổ tiên có nếp sống thương yêu dùm bọc, quây quần bên nhau cho gia đình và dòng tộc,. Gia đình là môi trường trưởng dưỡng thích hợp để tình thương luôn khởi sắc, và nếp sống bắt nguồn từ tình yêu gia đình, phát triển hồn nhiên trong sáng để biết ơn, tôn kính đối với ông bà, cha mẹ đưa đến phong tục thờ cúng ông bà mà khởi đầu không phải do ý thức tín ngưỡng như các tôn giáo khác du nhập vào Việt Nam.

Công cha như núi Thái Sơn
Nghiã mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Tu đâu không bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ, mới là đi tu..

Nhờ truyền thống với nền tảng tâm linh thờ cúng Tổ Tiên, từ đời nầy sang đời khác mà các tôn giáo du nhập vào Việt Nam không bị kỳ thị phân biệt, mọi người đều có tự do chọn lựa đức tin. Bởi thế suốt trong lịch sử Việt Nam không có chiến tranh về tôn giáo. Các bậc tiền nhân ý thức vai trò của con người trong xã hội và sự liên hệ giữa người với người và với thiên nhiên hài hòa , là bước khởi đầu trong tiến tình chuyển hóa tâm thức để giúp con người bước vào tiến trình thăng hoa với định hướng con người tương thông với vũ trụ mà khởi điểm là tương thông với ông bà Tổ Tiên .

Thế kỷ thứ 16 Thiên Chúa Giáo được các Thừa Sai người Tây Phương truyền bá vào Việt Nam, rao giảng tin mừng và lòng bác ái … Nhưng các Thừa sai chưa am hiểu được phong tục Việt Nam, áp dụng theo các Giáo luật La Mã khắc khe giáo điều, đụng chạm đến phong tục lâu đời cuả dân Việt trong việc thờ cúng ông bà. Tiếp theo là sự bành trướng chủ nghiã đế quốc, thuộc điạ cuả các nước Âu Châu. Thực dân Pháp lợi dụng cơ hội truyền đạo để xâm lăng nước ta gây nên làng sóng chống đối mạnh, máu xương của Tiền nhân đổ ra để dành lại độc lập, tự do.

Giáo luật của Tòa thánh La Mã. lúc bấy giờ còn qúa cứng trong khuôn khổ khó phù hợp với xã hội Việt Nam? Nguồn gốc người Việt lâu đời trong Ðạo Thờ cúng ông bà, mỗi nhà có bàn thờ tượng trưng như một truyền thống văn hóa của dân tộc, không ai có quyền cấm đoán, Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người Việt

“Giáo luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên. ngày kỵ giổ tưởng nhớ ông bà, hay làm tang lễ cho thân nhân Giáo dân chỉ xin lễ tại nhà thờ, không được làm lễ tại nhà? Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tình thần xã hội và triều đình Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẩn.”

” Kể từ đầu thập niên 60 Công đồng Vaticanô II Giáo hội Thiên chúa giáo La mã (Roma)  có những thay đổi để phù hợp với văn hoá các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thể thiết lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà.”

Giáo Hội Thiên chúa Giáo La Mã (Roma) sửa lại các giáo luật để phù hợp với mọi quốc gia trên thế giới. Vấn đề thờ kính Thiên Chúa và lòng bác ái phải thích hợp với đời sống tâm linh và phong tục. Sau 30.4.1975 người Việt nam chúng ta ra đi không chỉ mang theo nỗi nhớ quê hương mà còn mang theo cả truyền thống sinh tồn của dân tộc. Cộng đồng người Việt ở rải rác khắp năm châu ảnh hưởng văn hóa đa dạng, nhưng sinh hoạt của người Việt vẫn giữ những nét đặc thù. Tổ Tiên có công dựng nước thì gọi là Quốc Tổ không phải niên hiệu của một triều đại. Vì thế giỗ Tổ là một truyền thống bản sắc của dân tộc Việt Nam, không phải là cuộc trình diễn, không mang tính chất tôn giáo, mê tín dị đoan. Nhưng nó phát xuất từ tận đáy lòng sự thành kính đối với Quốc Tổ Việt Nam, với hồn thiêng sông núi…

Cuộc đời viễn xứ 37 năm của chúng ta phải làm và có thể làm được những gì? ích lợi cụ thể giúp cho cộng đồng, cho dân tộc của mình để không phụ ơn vong linh người xưa. Luôn nêu cao tình thần đoàn kết của người Việt trong cộng đồng thế giới. Tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, giữ truyền thống dân tộc nhớ  về nguồn. Kẻ thù phương Bắc không bao giờ bỏ mộng bá quyền. Thế kỷ 21 Việt Nam không thể nào để tái diễn nạn „bắc thuộc“ đó là bổn phận của toàn dân. Trải  qua mấy nghìn năm, trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, giỗ Tổ Hùng Vương không khi nào quên lãng, đền Hùng Vương là nơi  tôn kính con cháu phụng thờ công đức Tổ Tiên…

Nguyễn Qúy Đại

 Tài liệu tham khảo

trang http://vi.wikipedia.org

hình internet

Việt Nam văn học sử lược. Dương Quảng Hàm

Việt Nam sử lược tác giả .Trần Trọng Kim

Những câu chuyện lịch sử tác giả. Trần Gia Phụng

Danh ngôn:

Nghe thấy lời chê mà nổi giận ấy là dễ làm mối cho kẻ sàm báng, thầy lời khen mà vội mừng ấy là dễ làm mối cho kẻ nịnh nọt.

Không nên mưu việc lớn với kẻ đa ngôn

Không nên ở lâu với người hiếu động

(Văn Trung Tử )

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s