QUẢNG NAM QUA THI CA

1632543Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm

Rượu Hồng Ðào chưa uống đã say

Bạn về đừng ngủ gác tay

Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo.

Nói đến Quảng Nam người ta thường nghĩ đến vùng đất mở đầu cho cuộc Nam tiến từ đó làm bàn đạp tiến đến đồng bằng sông Cửu Long. Quảng Nam có các nhà cách mạng, khoa bảng gọi là đất “Ðịa Linh Nhân Kiệt-Ngũ Phụng Tề Phi”, góp phần xây dựng đất nước, đem lại điểm son trong lịch sử nước nhà cũng là vùng đất của thi ca, đóng góp vào lâu đài Văn Hóa Dân Tộc. Trong nhân gian ca dao truyền tụng qua câu hò giọng hát phong phú và lãng mạn. Câu chuyện cô gái hái dâu tại Ðịên Bàn nhờ tâm hồn văn nghệ lời ca trữ tình, giúp cho nàng bước lên  đỉnh cao của danh vọng. 

Theo Ðại Nam Liệt truyện ghi lại Sãi vương Nguyễn Phước Nguyên (1563-†1635) lúc còn là Thái tử làm Trấn thủ  Quảng Nam. Nguyễn Phước Lan con thứ của Sãi Vương (1601-†1648) là cháu ngoại của Mạc Kính Điển. Nguyễn Phước Lan du thuyền trên sông Thu Bồn trong đêm gió mát trăng thanh, thuyền Thế tử đang lững lờ trôi giữa dòng bỗng nghe tiếng hát   trong trẻo của cô thôn nữ từ xa vọng lại.

Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng

Thiếp thương phận thiếp mà hồng nắng mưa

Thuyền rồng Chúa ngự đi đâu.

Thiếp thương phận Thiếp hái dâu một mình

1Tiếng hát thanh tao giữa đêm trăng nghe hấp dẫn Thế tử Nguyễn Phước Lan cho thuyền cập bến, nơi đó là bãi đất trồng dâu ở ven sông thuộc gành Ðiện Châu còn gọi là An Phú Tây thuộc quận Ðiện Bàn ngày nay. Khi lên bờ Thế Tử gặp thiếu nữ 16 tuổi xinh đẹp đang hái dâu dưới ánh trăng vàng. Nguyễn Phước Lan đến với nàng, như hai siêu tầng số tâm hồn gặp nhau, tình yêu đến thật tình cờ không hẹn ước phải chăng đó là duyên nợ định mệnh an bài. Sãi vương cho phép Nguyễn Phước Lan làm lễ thành hôn với nàng “hái dâu” là Ðoàn Thị Ngọc con gái thứ 3 của quận công Ðoàn Công Nhạn quê Ðiện Bàn
Thế Tử xin Chúa cho phép nàng được vào hầu trong phủ. Kể từ đó, bà trở thành phu nhân Thế tử. Nguyễn Phước Lan nối ngôi Chúa (1635-1648) là Công-Thượng-Vương, bà Ðoàn Thị Ngọc được Sãi vương sũng ái đưa lên chánh phi, phong Hiếu-Chiêu Hoàng-Hậu. Bà trở thành Chính Phu Nhân, sanh ra chúa Hiền Nguyễn Phước Tần (1619-†1687) bà là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn nên rất được Chúa sủng ái cũng như được mọi người trong phủ kính yêu. Bà mất năm Tân Sửu (†1661), lăng bà tại Gò Cốc Hùng, núi Chiêm Sơn, Quảng Nam.

Ca dao là di sản văn hóa, văn chương bác học của dân tộc Việt Nam là những câu hát bình dân thông thường trong sinh hoạt xã hội. Ðược truyền tụng từ đời nầy sang đời khác, ca dao mang mọi hình thái khác nhau theo thời gian, diễn tả mọi sinh hoạt đời sống như cảnh tan thương mất mát và chí khí hào hùng trong đấu tranh dành lại độc lập , tự do của dân tộc hoặc nói lên tình yêu thiết tha hay tiếng thở dài vì tuyệt vọng của tuổi xuân nam nữ , là nỗi buồn chia tay của tuổi học trò, là tấm lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ..

Từ thế kỷ thứ 17 người Quảng Nam tiếp xúc nhiều với văn minh ngoại quốc nhưTrung Hoa có nền văn hóa lâu đời, ngược lại Tây Phương có tài về khoa học kỷ thuật bởi thế không có gì lạ khi dân Quảng Nam có một sự hiểu biết đa diện. …Tổ tiên khi xưa đặt chân đến nhận vùng đất Chiêm Thành để lập nghiệp với bản tính can đảm ,cần cù thích canh tân tiến bộ trong tình thần dân chủ, cởi mở , thích phát biểu ý kiến …từ vùng đất mới khai phá đã tạo nên miền đ ất hứa .Ai nói điều gì mơ hồ không có dẫn chứng đúng thường bị cãi lại ngay. Cãi trở nên truyền thống của người Quảng Nam, bởi thế ca dao có nói về cá tính trong sinh hoạt xã hội:

Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo

Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết  

Thu_Bn_binh_yenÐời sống gia đình, tình yêu mộc mạc của vợ hiền đảm đang việc nhà, dành thì giờ cho chồng yên chí học hành, đỗ đạt ra giúp đời, hay hai người chỉ mới yêu nhau nhưng chờ ngày bái tổ vinh qui . Ngày xưa các thì sinh Quảng Nam, phải vượt đèo Ải Vân ra Huế dự các kỳ thi do triều đình tổ chức nhà giàu đi ngựa, nghèo thì đi bộ có người gánh phụ hành trang .Các chàng trai ra Huế thấy nàng gái Huế qua cầu Trường Tiền sáu vày mười hai nhịp, với áo dài và mái tóc thề tung bay trong gió nhẹ của sông Hương khác với hình ảnh người yêu hay vợ hiền ở Quê nhà trong cái nhìn ngẩn ngơ :

 

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Sau nầy trai Quảng Nam ra Huế học Ðại học không còn ngẩn ngơ, đến nổi đi không đành như các cụ ngày xưa, học xong ra trường đi làm việc khắp nơi, không giới hạn làm quan ở triều đình Huế. Những thành phố Hội An, Ðà Nẵng, Tam Kỳ trở nên sầm uất, các nàng gái xứ Quảng cũng xinh đẹp, văn minh dịu dàng… nên các chàng sửa lại chữ  “thấy “ ra  chữ  ”mấy”. Tình yêu lòng thủy chung thường nhắc đến, dù học hành đỗ đạt làm quan, đừng quên tình yêu thuở ban đầu lưu luyến ấy.

Sáng trăng trải chiếu hai hàng

Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ

Quay tơ vẫn giữ mối tơ,

Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh.

Non non, nước khơi chừng

Ái ân đôi chữ xin đừng quên nhau

Tình sâu mong trả nghĩa đền

Ðừng vui chốn khác mà quên chốn nầy 

Vợ chồng quê ngày ngày bận rộn việc ruộng đồng, ban đêm còn tranh thủ thời gian làm thêm việc nhà, không mong ước gì cao xa ngoài lòng chung thủy

Ðêm hè gió mát, trăng thanh

Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp chừng

Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt

Duyên đôi ta đã trót cùng nhau

Trăm năm thề những bạc đầu

Chớ ham phú quí đi cầu trăng hoa.

Tình yêu khép kín trong lễ giáo gia đình „tình trong như đã, mặt ngoài còn e” nhưng tình yêu của phố Hội An cũng lãng mạn dành cho thi nhân và khách vãng lai

Ai đi phố Hội, Chùa Cầu

Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,

Ðể sầu cho khách vãng lai,

Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu                       

Hội An  nơi hẹn hò của các cặp nhân tình trong các mùa làm việc chung với nhau

Thương nhau chớ quá e dè,

Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be.

Thiếp nói thì chàng phải nghe

Thức khuya, dậy sớm, làm chè 10 ngày 12 xu

Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo

Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,

Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,

Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau

Lạy trời, mưa xuống cho mau

Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp nhau

Tình yêu có thể vượt không gian và thời gian không còn ngăn sông cách núi dù ở đâu cũng có thể tìm đến, ngày xưa thiếu phương tiện giao thông, phải vượt núi đèo tìm đến với người yêu trong đời sống mộc mạc của hoa đồng cỏ nội, hay trên đồi sim tím

Ðói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người yêu (thương)

hay

Thương nhau, mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Khoảng cách không thể so sánh với tình yêu, đường xa cách trở có thể thâu gần lại

Rằng xa: cửa ngõ cũng xa

Rằng gần: Vĩnh-Ðiện, La-Qua cũng gần

Thân phận con gái đi lấy chồng, nhưng hình ảnh sinh hoạt trong gia đình không thể quên dù được sống hạnh phúc bên chồng, nhưng đôi lúc chạnh lòng nhớ thương cha mẹ

Chiều chiều ra đứng ngỏ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Chiều chiều mây phủ ải vân

Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

 Hay

Chiều chiều mây phủ Sơn trà

Lòng ta thương bạn, nước mắt và lộn cơm                                                     

Người Quảng Nam tính tình cương trực, nói thẳng không giấu diếm nỗi lòng, trong tình yêu  gia đình, xã hội đạo làm người luôn được tuyệt đối tôn trọng

Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày

Một hột cơm cũng nhớ

Một gáo nước đầy vẫn chưa quên

Người chồng vì bổn phận đi xa, vợ hiền lo gánh vác việc nhà nuôi con phụng dưỡng mẹ già, giữ lòng thủy chung, mong ước ngày đoàn tụ dưới mái ấn gia đình để con có mẹ có cha, Truyền thống đàn bà Việt Nam hy sinh giúp chồng mong làm nên sự nghiệp, vợ khôn ngoan làm quan cho chồng , tiễn đưa chồng ra đi không phải là những nụ hôn nồng nàn, nhưng là lời nhắc nhủ

Anh đi em ở lại nhà

Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ

Lầm than bao quản muối dưa

Anh đi! anh liệu chen chân với đời

Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông

Thấy nước xanh như tàu lá,

Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn

Thấy phố xá nghinh ngang

Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,

Ðào sông Cù nhĩ, tìm vàng Bông miêu.

Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,

Ở nuôi Thầy Mẹ, sớm chiều cũng có anh

www.duyxuyen.com.vnCác địa danh Tý Sé Hòn Kẻm, Ðá Dừng (Hòn Kẽm Dá Dừng là thắng cảnh đẹp và thơ mộng, thuộc địa phận 2 xã Quế Lâm và Quế Phước của huyện Quế Sơn) tôi chưa một lần bước chân đến đó. Xem lại bản đồ Quảng Nam địa danh này nằm trên sông Thu bồn, phát xuất từ thượng nguồn chảy qua giữa quận Quế Sơn và Ðại Lộc, nhưng thưở xa xưa có thể người ta đến đó làm việc, trên sông dưới nước với cảnh khỉ ho cò gáy, nhớ về Mẹ là nhớ về cuội nguồn dân tộc

Ngó lên Hòn-Kẻm, Ðá-Dừng,

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

Công ơn sinh thành của cha mẹ cao như trời, rộng như biển, con cái có lòng hiếu thảo đó là nguồn an ủi đối với cha-mẹ lúc tuổi già. Nhắc lại tình mẫu tử cao qúy, qua kinh nghiệm cuộc sống nhắn gởi ai còn cha mẹ nên giử lòng hiếu thảo.

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao Mẫu từ

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Mẹ hiền thường răng dạy con gái qua ca dao như thứ luân lý thực hành

Mình là con gái trong nhà

Hình dung yểu điệu nết na dịu dàng

Khi ăn khi nói chững chàng

Khi ngồi khi đứng bỉ bàng dung nghi

Sống với quê nhà bên lũy tre xanh, trên con đường làng bé nhỏ, hay phải đi xa một phương trời nào, khó có thể quên được quê hương xứ Quảng, kỷ niệm gắn bó cuộc đời, sau năm 1975 làng sóng bỏ nước ra đi tìm tự do, được định cư khắp nơi trên Thế giới, hội nhập vào văn minh xứ người, nhưng nỗi lòng người viễn xứ vẫn canh cánh bên lòng nhớ thương về quê Mẹ, mỗi địa phương mang một đặc thù riêng

Ai đi cách trở sơn khê

Nhớ tô Mì Quảng, tình quê mặn mồng

Hội An đất hẹp, người đông

Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

Hội An bán gấm, bán điều

Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

Chiêm Sơn là lụa mỹ miều

Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

Chồng em là lái buôn tiêu

Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng                       

Dãy trường sơn chạy dọc theo bờ biển từ Nam Ô cho tới Chu Lai phần lớn dân số sống về nông nghiệp và ngư phủ cùng nhau góp phần vào phát triển kinh tế. Các quận trên nguồn như Tiên Phước, Quế Sơn…muốn ăn cá phải mua cá hấp chín, bán vào các buổi chợ sớm, các loại mắn người miền biển gánh lên nguồn đổi lấy ngũ cốc, tùy theo các mùa, nhưng loại cá chuồn, người ta thường làm thính hay hấp, cá chuồn nấu với mít non một đặc sản ngon tuyệt vời

Ai về nhắn với ngọn nguồn

Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên

tienVua_01Trái bòn bon bé nhỏ nhưng có hương vị ngọt, ngày xưa khi vua Gia Long hái ăn lúc vượt núi băng ngàn để chống lại nhà Tây Sơn. Thống nhất Sơn Hà 1802“, để nhớ lại lúc thiếu lương thực nhà vua và quân lính thường hái các trái cây trên  đặt tên trái bòn bon là „Nam-Trân.“ trái Măng Cụt (có tên khoa học là Garcinia mangostan, còn có tên tiếng Anh thường dùng là mangosteen, mankut… được trồng phổ biến ở rất nhiều nước nằm trong vành đai nhiệt đới). tại miền Nam tên là „ Giáng-Châu“.

Trái bòn bon trong tròn ngoài méo

Trái thầu dầu trong héo ngoài tươi

Em thương anh ít nói ít cười

Ôm duyên ngồi đợi chím mười con trăng

Vùng biển cát trắng Nam Ô nằm dưới chân đèo Ải Vân, sản xuất nước mắn ngon không thua gì Phú-Quốc hay Phan-Thiết. Chúng ta ít nhất một lần ăn dưa cải muối với nước mắn Nam Ô

Nói cho lắm cũng nước mắn dưa cải

Nói cho phải cũng dưa cải nước mắn

Tường Linh có những vần thơ đi vào văn học :

Ðêm Ðà Nẵng vọng về cơn gió biển

Bún chợ Chùa thương nước mắn Nam Ô

Quận Hòa Vang gíáp Ðà Nẵng có bến xe Ðò Xu, ngã ba Hòa Cầm Cẩm Lệ nơi sản xuất nem, tôi không hút thuốc nhưng nghe người ta thường nói nơi nầy nổi tiếng một vùng trồng thuốc thơm ngon, gọi là thuốc lá Cẩm Lệ các vùng Thanh Qúit cũng trồng cau, thuốc lá được các ghe thương gia tới mua bán

Tơ cau thuốc lá đầy ghe

Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.

Hội An có bánh tổ một đặc sản, vùng Tiên Ðỏa từ Hương An trở vào cho đến quận Thăng Bình vùng cát trắng phau thích hợp cho việc trồng khoai lang .

Nem chả Hòa Vang

Bánh tổ Hội An

Khoai lang Tiên Ðỏa

Thơm rượu Tam Kỳ

cay queQuận Trà My Quảng Nam trồng Quế vỏ nhiều dầu, phẩm chất cao đặc sản  nổi tiếng, các nơi khác trồng nhưng có thể xa khí hậu phong thổ phẩm chất kém, bởi vậy khó nơi nào sánh bằng,

Quế Trà My thứ cay thứ ngọt

Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh

Phàn du, bạch chỉ rành rành

Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

Quế sản phẩm giá trị và Yến ở cù Lao Chàm nổi tiếng thơm ngon và đắt tiền

Ðầy hàng tháng ngát mùi hương

Sửa quế người xem khá rộn ràng

Số chở hàng năm khôn kể xiết,

Bán xong lại đến lấy thêm hàng..

Lời ru ngọt ngào của mẹ hiền, tiếng ru à ời tha thiết âm thanh kéo dài, trong những trưa hè nắng gắt, ru cho con giấc ngủ bình yên, liên khúc ca dao trữ tình như lời nhắn nhủ, lớn lên phải khôn ngoan vào đời. Nhờ truyền khẩu nên các bà thuộc lòng các câu ca dao kết hợp lại thành liên khúc ru con :

Ru con con thét cho muồi

Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh

(Tùy theo mổi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )

Công cha nghĩa mẹ chớ quên

Ơn vua lộc nước mong đền con ơi

Như vầy mới gọi rằng trai

Trên lo nghĩa Chúa, dưới mài Thảo thân.                       

Con mèo trèo lên cây cau

Hỏi thăm chú chuộc đi đâu vắng nhà

Chú chuộc đi chợ đường xa

Mua mắn mua muối giổ cha chú mèo

Các nàng được ví von như tấm lụa đào xinh đẹp, như những giọt mưa sa mỗi độ xuân về, con gái dịu dàng tha thước, nhưng thân phận so sánh như 12 bến nước trong nhờ đục chịu, tình yêu duyên nợ cột vào với nhau, tình yêu chỉ là giấc mơ cho phương trời viễn mộng? Ngày xưa chịu ảnh hưởng gia đình “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” nhưng có câu „ ép dầu ép mở ai nở ép duyên”.

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

Thân em như hạt mưa rào

Hạt sa bãi cát, hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đồng nội, hạt sa vũng lầy. 

Mít nonQuảng Nam có những trang sử oai hùng và bi đát, qua các cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Tình thần yêu nước hy sinh của sĩ phu và những người dân quê, họ sống trên cánh đồng lúa bờ dâu, hiền từ chất phát không hận thù. Thời Pháp thuộc bị bóc lột đến tận xương tủy, nên mọi người cùng nắm tay nhau lên đường đấu tranh. Phong trào đấu tranh xin xâu giảm thuế phát xuất tại Quảng Nam đánh dấu một kỷ nguyên mới dưới thời nô lệ.

Ðất Quảng Nam từ năm bính ngọ (1906)

Xâu ngũ nhật, công sưu công ích, đường trường làm tột núi cao

Thuế bách phân gia ngũ gia tam, đủ ngón vét từng xu nhỏ

Mãi tới xuân nầy (1908) cực đà hết chỗ,

Ra tết trời làm tai biến, hạn hán tiêu khô

Nhiều nơi đất bỏ hoang dân tình đói khổ..

Làng sóng đấu tranh nổi lên toàn tỉnh Quảng Nam sau đó kéo dài các tỉnh miền Trung

Ðời ông cho tới đời cha

Ðời nào cực khổ như ta đời nầy

Ngoài đồng cắm cọc giăng giây

Vườn nhà đóng thuế, vợ gầy con khô.

Ðời xưa thuế một quan năm

Ðời nay thuế lại hai đồng bốn giác

Con tay bồng tay dắt

Vợ tay đỡ tay mang

Vui chi mà hát mà mừng

Mua ngày mà ở cầm chừng với Tây

Từ ngày Tây chiếm Ðế đô

Xâu cao thuế nặng, biết  chừng mô hởi trời !

Còn lo một nỗi khổ đời

Quan trên ỷ thế nặng lời hiếp dân. 

Kể từ Ðồn Nhất kể vô

Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn

Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang

Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra

Ngó lên chợ Tổng bao xa

Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu

Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu

Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp năm

Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm,

Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

cd27mit1Thời tiết các năm ấy hạn hán bị mất mùa, thu hoạch ngũ cốc chưa đủ sống, nhưng bọn tay sai thâu thuế lấy xâu không nương tay, chỉ muốn thu tiền cho đầy túi dâng cho bọn thực dân hưởng thụ, bắt dân phu đi làm đường đào mỏ.. sống chết mặc bay. Người dân Quảng Nam không chịu đựng cảnh người bóc lột người của thời nô lệ, từ đó họ đã biến đau thương thành hành động

Tháng giêng cho chí tháng hai

Con dân áo rách quần xài đi ra

Mười lăm cho đến ông già

Cơm đùm, ruột tượng, xuống tòa lãnh ban

Chức sắc cho chí diên quan

Làm đơn kêu gọi các làng xin xâu

Kể từ cầu Ông Bộ kể ra

Cây Trâm, Trà Lý, bước qua Bà Bầu

Tam Kỳ, Chợ Vạn, Thầu Đâu,

Ngó qua đường cái, thấy lầu ông tây

Chiên Ðàn, Chợ mới gần đây,

Kế Xuyên mua bán, đông tây rộn ràng

Hà lam gần sát Phủ Ðàng,

Phía ngoài bãi cát, Hương an nằm dài,

Cầu cho gái sắc, trai tài.

Chung lòng xây dựng, tương lai huy hoàng

Thực dân Pháp và tay sai đàn áp các cuộc biểu tình xin xâu kháng thuế, nhiều người bị kết án tử hình, trong đó Ông Ích Ðường cháu nội Ông Ích Kiêm bị bắt tử hình ở Túy loan. Ông trùm Thuyết bị chém vì hô những tiếng lớn lên án Trần Tuệ chuyên ăn hối lộ làm cho đề đốc Trần Tuệ tay sai đắc lực với Pháp sợ qúa hộc máu mà chết.Tiếng hô uất hận của dân tộc lầm than, đói khổ bị đè nén lâu ngày, tiếng hét được mọi người hưởng ứng để đánh đổ bạo quyền và tay sai. Nên ca dao, vè đấu tranh lưu truyền mãi mãi.

Cậu Ðường mười tám tuổi đầu

Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa                                  

Bắt anh trùm Thuyết dẫn ra,

Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về

Chém anh trùm Thuyết gớm ghê

Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa

cá chuonCác Phong trào chống thực dân dù bị đánh dẹp, không tránh khỏi cảnh bất công trả thù, gông cùm tù đày bắt bớ, chém đầu, máu của dân tộc Việt Nam đổ ra khá nhiều, riêng tại Quảng Nam phong trào trên làm cho chính sách của bọn thực dân phải chùn bước. Phan Châu Trinh (1872 -†1926) Huỳnh Thúc Kháng (1876-†1947), Nguyễn Thành (1863-1†911) đều bị bắt cùng nhiều người khác đày ra Côn đảo. Trần Quý Cáp (1870-†1908)

Ca dao mang chúng ta trở về nơi xa mù quá khứ, hoài nhớ lại kỷ niệm của tuổi thơ  được nghe tiếng hát mẹ hiền..Kỷ niệm như đang len lỏi vào hồn, như khởi dậy nỗi niềm xa xứ, nhắc nhở chúng ta đừng quên cội nguồn. đừng quên bổn phận với Quê hương bên kia bờ Ðại dương.

Nguyễn Quý Đại


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s