HAI NGƯỜI BẠN

Administrator-hoa-phuong-tim-2-2Chúng tôi sinh trưởng tại Hội An, kỷ niệm thời thơ ấu thường rủ nhau rong chơi khắp phố phường, có thể thuộc lòng từng con đường, ngõ hẻm,dọc theo bờ tường là những cánh hoa đủ màu khoe sắc thắm thơ mộng cheo leo, lóng lánh dưới ánh sáng ban mai còn đọng những giọt sương. Trong những đêm trăng sáng trên những mái ngói âm dương rêu phong ấp ủ dịu dàng. Hội An thành phố cổ, hơn 400 năm trầm mặc bên dòng sông Hoài xanh biếc.

Cuối thế kỷ thứ 16 Hội An đã trở thành trung tâm thương mãi lớn nhất xứ Đàng Trong. Giáo sĩ Buzomi (1576-1639) năm 1615 đến Hội An và nhiều Giáo sĩ Thiên chúa giáo tới truyền đạo, liên quan tới việc sáng chế ra chữ Quốc Ngữ như Giáo sĩ người Bồ Đào Nha Francesco de Pina (1585-1625), cha Đắc Lộ dòng Tên Alexandre de Rhode(1591-1660). Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong năm 1625 thời Chúa Nguyễn Phúc Ánh (1563-1635) và Đàng Ngoài năm 1625 thời chúa Trịnh Tráng (1577-1657). Thời gian Alexandre de Rhode giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai dòng Tên truyền đạo từ Nam ra Bắc.…Dù Hội An tiếp xúc với văn minh thế giới (Pháp, Hòa Lan, Ý, Bồ Đào Nha, Nhật ..) nhưng Hội An có rất nhiều Chùa, cũng như đình làng cổ kính, và chỉ có một nhà Thờ Thiên Chúa Giáo, một Hội Thánh tin Lành và  Thánh Thất Cao Đài.

Đường phố vắng xe chúng tôi không sợ tai nạn, hai bên đường hàng phượng vĩ đỏ rực với tiếng ve sầu, thỉnh thoảng nghe tiếng rao bán cà rem, chè đậu ván, còn có tiếng rao lạ tai “ai ngầu mạc nạm không“ của chú Ba người Hoa bán thịt heo quay…Sáng tinh sương mặt trời chưa thức giấc đã nghe tiếng gõ trên sông Hoài của những người đánh cá, tiếng rao bán bánh mì, đậu hũ, rau sống, hến luộc ăn với bánh tráng nướng.. Sinh hoạt của thành phố không ồn ào, thời chiến tranh quân đội Đồng Minh đóng xa thành phố, thỉnh thoảng vài xe Jeep của sĩ quan Đại Hàn, người Mỹ làm việc dân chính dạy tiếng Anh.. và một số bác sĩ, y tá người Đức làm việc tại bệnh viện Hội An.

Lịch sử vang bóng một thời của Hội An đi vào qúa khứ, nơi đây là thành phố buồn yên lặng, không có rạp Ciné, không Hotel, chỉ có những quán ăn nhỏ Cao lầu, mì Quảng, bún, cơm..Dân số không đông, giọng nói cũng nhẹ nhàng hơn các nơi khác của Quảng Nam, thành phố nhỏ nên người ta thường nói „thượng Chùa Cầu hạ Âm Bổn“ ý nói sự hạn hẹp của một khu vực,  hòa đồng cuộc sống, việc gì xảy ra bà con ai cũng biết, cặp tình nhân yêu nhau cả thành phố đều biết, nên đã yêu nhau thì thường tới việc hôn nhân. Từ thế kỷ 20  Đà Nẵng lớn nhất của miền Trung phát triển trên mọi bình diện như: văn hoá, thương mãi, ngoại giao…

Hội An bị lãng quên theo thời gian! Nhưng có một điều Hội An chính là hình bóng ghi sâu vào ký ức, một quá khứ sinh động trong đời sống tinh thần hài hoà của người dân Quảng Nam, dù ngày nay tôi sống cuộc đời viễn xứ nhưng kỷ niệm của tuổi thơ bao giờ cũng đẹp. Sau 30/4/75 tôi và Hải vừa tròn 8 tuổi, chúng tôi phải rời Hội An trong hoàn cảnh khác nhau

Đầu tháng ba năm 1975 cuộc chiến các tỉnh miền trung khốc liệt, các quận của Quảng Nam đều di tản về Đà Nẵng: Tam Kỳ, vĩnh Điện bị bộ đội CS chiếm có cả xe T54 hộ tống..Hội An còn yên tĩnh, nhưng bị cô lập không thể đi Đà Nẵng bằng đường bộ!  Gia đình Hải ở khu gia binh, Ba của Hải chỉ huy chiến đấu ở tuyến đầu nên gia đình không thể bỏ đi. Gia đình tôi chạy xuống cửa Đại, mướn ghe đánh cá đưa ra tàu Hải Quân lênh đênh trên biển, làn sóng người dùng đủ các phương tiện ra tàu Hải quân để hy vọng vào Sài Gòn, khi nghe tin TT Thiệu ra lệnh bỏ Đà Nẵng ngày 29.3.1975 di tản chiến thuật. Cảnh di tản thật đau thương, Người chết, bị thương vô kể, vì bị đạn pháo kích của bộ đội CS. Máu người đổ ra đã đổi màu cát trắng của biển thành đỏ sậm tang thương!….

Đến Sài Gòn, gia đình tôi ở tạm với gia đình người họ hàng, dù không được thỏa mái, nhưng tạm ổn định vui mừng gia đình thoát nạn CS. Niềm vui chưa trọn vẹn thì Sài Gòn cùng chung số phận. Sau khi TT Dương Văn Minh kêu gọi Quân đội VNCH ngưng chiến đấu…Những thay đổi của Sài Gòn và miền Nam chúng ta đã trải qua dưới chế độ CS. Tưởng không nên nhắc lại những đau thương 34 năm chưa dể lãng quên. Gia đình tôi không về lại Hội An, vì nghe tin Cư xá công chức sau chùa Viên Giác, ba mẹ tôi mua đã bị cán bộ CS chiếm không còn tổ ấm để trở về, Ở Sài gòn thì không có tờ khai gia đình «hộ khẩu » lương thực mua theo tem phiếu. May mắn ba tôi không phải bị tập trung cải tạo, vì làm giáo chức, được hoãn dịch gia cảnh không  động viên vào trường sĩ quan Thủ Đức như những đồng nghiệp khác bị tập trung cải tạo…Ba mẹ tôi không được phép tiếp tục dạy học, nên gia đình tôi đến ngã ba Ông Đồn mua vườn lập nghiệp. Cuộc đời tuổi thơ của chúng tôi thay đổi 180 độ, thật vất vả thiếu ăn, thiếu bút vở để đi học. Ở trường học sinh phải tập lao động, đi thu lượm rác để chính phủ bán làm con tàu Thống nhất   vv…

Ba mẹ tôi quyết định phải vượt biển tìm tự do. Ghe ra khơi nhiều ngày thiếu lương thực, nước uống..may mắn được tàu Cap Anamur vớt trước cơn bão lớn có thể nhận chìm ghe chúng tôi xuống lòng đại dương. Nên nhớ mãi con tàu «the ship, which we never forgot ». Chúng tôi tạm vào trại ở Singapore và sau đó định cư tại Bavaria. Mỗi gia đình bắt đầu làm lại cuộc đời mới. Gia đinh tôi, sau khi học xong tiếng Đức, Ba mẹ tôi lớn tuổi dù tốt nghiệp Đại học VIệt Nam, ở Đức bằng Việt Nam không được công nhận như ở Mỹ, nên phải đi làm cuối tuần học thêm một ngành làm gương cho các con và  xây dựng sự nghiệp. Lúc nào ba mẹ chúng tôi cũng nhắc nhở các con phải học cho có điạ vị như người bản xứ, để chứng minh chúng ta đến Đức hội nhập tốt. Nhưng các con đừng quên ngoài bằng cấp đạt được, các con cần phải học làm NGƯỜI tốt, phải tự thắng mình, khiêm tốn bao giờ cũng được mến chuộng, hoà nhã với mọi người, có cuộc sống yên vui là nhờ ở tâm thiện không gây thù kết oán. Tính tốt nơi con người rất hiếm, trái lại  tính hư tật xấu nhiều: kiêu căng, oán giận, tham tiền, háo danh… đem cái tôi đáng ghét của mình để khoe khoang, sẽ thất bại ngay trong cuộc sống dù bất cứ ở đâu trên trái đất nầy…

Chúng tôi nhận nước Đức làm quê hương thứ 2, sống phải hội nhập, hướng thượng, thăng hoa, để tự hào là nguồn gốc dòng giống Lạc Hồng, có lịch sử kiêu hùng chống ngoại xâm phương Bắc giữ vững bờ cõi từ Ải Nam Quan tới tận mũi Cà Mau. Thế hệ trẻ Việt Nam thành công ở các trường Trung và Đại học, làm cho những người ngọai quốc khác phải kính nể truyền thống giáo dục của gia đình người Việt Nam. Người Đức cũng có thiện cảm hơn đối với người Việt Nam: „Tỷ số học sinh gốc Việt  lấy bằng tú tài cao hơn tỷ số học sinh Đức. Nếu so với nhóm dân gốc Ý hay Thổ thì tỷ lệ cao gấp 5 lần“ theo tờ Die Zeit số 5, ngày 22.1.2009. Hơn 40.000 người là thuyền nhân, tường nhân đã có đời sống tốt đẹp, con cái siêng năng, học giỏi có những thành tích lẫy lừng. Nhưng trong tập hợp xã hội chắc chắn không tránh được trường hợp «con sâu làm rầu nồi canh»

Gần 30 năm nơi xứ người, chúng ta có nhiều kỷ niệm vui buồn, Tôi vẫn nhớ đến Hải người bạn thời thơ ấu, mỗi người một phương trời không liên lạc được. Cuối năm qua bỗng dưng tôi nhận mail qua địa chỉ một tờ báo, tòa soạn chuyển với lời nhắn: «hy vọng tìm lại bạn xưa, nếu có sự trùng hợp tên thì xin bỏ qua“.

-Nhớ về quê hương thời thơ ấu, dưới mái trường xưa con đường ngập lá vàng rơi, nhớ chúng mình một thời rong chơi.. Cuộc đời đổi thay chúng ta mỗi người mỗi ngã đối với Sơn đời sống thế nào? Còn đối với tôi quê hương là những ngày khổ cực, tuổi thơ đã mất tự bao giờ!. Sau 30.4.1975, gia đình tôi bị đuổi ra khỏi khu gia binh, thân phụ bị bắt tập trung cải tạo ở Tiên Lãnh. Gia đình phải rời Hội An đi vùng kinh tế mới, từng đoàn người nối đuôi nhau, tay bồng vai gánh …hơn một ngày đi bộ, cuối cùng đến khu đất hoang vắng và điêu tàn của quận Quế Sơn, không một cây cao, không một bóng mát, chỉ toàn là cỏ tranh với mấy bụi chà là… Thanh niên ở các vùng như Hương An, Bà Rén đều buộc lên đây để khai hoang, xăm tìm mìn, bom đạn còn sót lại, giúp đỡ cho bà con làm ruộng vườn cho kịp thời vụ. Ban ngày thì từng đoàn thanh niên chia nhau ra các cánh đồng để vỡ ruộng, tối  trăng vừa nhô lên khỏi ngọn tre, họ phải họp hội, phê bình học tập chính trị tới nửa đêm… Tôi là chứng nhân của lịch sử ghi nhận lại những hành vi trả thù đê tiện của cán bộ, du kích, tên xã đội trưởng, bắt anh cựu lính nghĩa quân, leo lên bụi tre để chặt tre chẻ lạt, cây tre chưa rớt xuống đất, nhưng nó nắm ngọn tre giật mạnh, làm nửa cây tre bật ra đâm vào bụng anh kia, máu chảy quá nhiều, rồi nó vác cái thang đi chỗ khác, miệng nó bảo: „mầy nhảy xuống đi, mày không dám nhảy sao mày dám đi lính cho ngụy?“ Tôi thấy tội nghiệp cho anh ta nên đi lấy cây tre có nhiều mắt dựng lên để cho anh kia bò xuống …đó chỉ là một trong số nhiều hành động trả thù ở đây tôi tận mắt chứng kiến. Cán bộ CS đức ít mà hưởng nhiều quyền lợi, tài  trí kém mà địa vị cao, công nhỏ nhưng bổng lộc lớn, đó là cái lý của kẻ chiến thắng. Kiến thức kém, thiếu học, nên thời đó cuối tuần tôi phải dạy bình dân học vụ cho họ. Đối với những người đã hy sinh trong cuộc chiến là „liệt sĩ“ nhà nước buộc nhân dân đóng tiền xây đài tưởng niệm, tìm hài cốt để lập nghiã trang…nghiã trang được làm, có mộ bia nhưng không có hài cốt phiá dưới. Những người hy sinh cho lý tưởng CS, rồi bị phản bội hài cốt bỏ quên.. nên việc cán bộ lấy tiền của người nghèo không có gì mới lạ ở Việt Nam

Trong những năm 75&76 vào những ngày giáp hạt (là những ngày cuối vụ mùa, khi lúa trong nhà thì hết, lúa ngoài đồng thì chưa chín kịp, những ngày này trong gia đình tôi không còn gạo để ăn. Cả nhà phải ăn khoai lang để trừ bữa. Lúc bây giờ tôi và các bạn học cứ mỗi tuần phải ở lại trường một buổi để lao động, những ngày đó tôi thường đem theo vài củ khoai lang để ăn trưa. Nhưng sợ xấu hổ với bạn bè, nên đành ăn lén ở dọc đường. Gia người bạn học, hiểu được hoàn cảnh như vậy nên cứ mỗi lần ở lại trường lao động, Gia thường chia cho tôi nửa cục cơm nguội ăn với muối mè mặn chát…

Mùa hè năm 1980, ruộng đất bị quốc doanh cho Hợp Tác Xã nông nghiệp, chỉ còn lại miếng đất vườn thổ cư, để chăn nuôi gà vịt. HTX nông nghiệp nông dân làm ruộng mổi ngày chỉ được tính bằng điểm, rồi cuối vụ mùa, qui ra thành lúa. Đời sống nông thôn ở Quảng Nam nói chung, và ở quê tôi nói riêng, lúc ấy đều thiếu ăn trầm trọng, Đi đâu ai cũng kêu ca „lúa“ với „điểm“ (lúa chứa đầy kho ông chủ nhiệm, dân thì đói khát , kẻ đi xin).  Năm ấy lại hạn hán mất mùa nên bà con nông dân đều vất vả khốn cùng. Ngoài đồng thì ruộng khô cỏ cháy, trong nhà thì người ta ngồi khoanh tay nhìn ra nhũng bụi chuối quanh vườn đang chết dần, chết mòn qua những đợt nắng nóng kéo dài. Cả xóm đều trông vào một cái giếng đầu làng, tất cả đều khô cạn, cứ gà gáy đầu canh thì nghe tiếng khua thùng loạt xoạt của những người đi gánh nước trong đêm. Gia đình tôi sống phụ thuộc vào nghề chằm nón lá. Mấy chị em xúm nhau chằm nón, để má tôi đem lên nguồn đổi lúa, bắp đem về ăn qua ngày, Còn những người không đi đâu như Thím Do (chồng thím và ba tôi đều bị tập trung ở Tiên Lãnh) Thím và tôi cùng nhau lên núi phá rừng vở đất trồng khoai. Cứ sáng sớm là hai người đã có mặt ở trên núi để đào gốc cây lật đá, chiều thì gánh rể, gốc cây đem về làm củi. Ngày nào cũng vậy, để quên đi nỗi mệt nhọc thím thường kể lại thời học Phan Châu Trinh mơ mộng cuộc đời thăng tiến, không ngờ đổi đời trở thành một nông dân chân lấm tay bùn, phải nuôi các con còn nhỏ dại thiếu ăn. Nếu ngày xưa „Bác“ đi theo con đường  của cụ Phan Châu Trinh dành lại độc lập thì thím cháu không đến nỗi khổ như vậy..  khỏang hơn hai tháng sau mới có được miếng đất trống để trồng khoai lang. Hai đứa con của thím Do bây giờ còn nhỏ, con Tiên con Vân theo mẹ để khiêng gốc cây đem về, nhưng chiếc dóng thì dài hai đứa thì thấp nên củi cứ đổ lên đổ xuống trên đường, trông tụi nó thật tội nghiệp. Bây giờ hồi tưởng lại những hình ảnh đó, tôi không dám nghĩ là mình có thể làm được những việc nặng nhọc như vậy. Có thể nhờ trôi luyện trong khổ đau, nghèo khó của thời cuộc nên sang Mỹ các con thím Do đều học hành thành tài. Thu Hương con út thím ra trường tiến sĩ tâm lý học vào hạng giỏi.

Thời đó đời sống gia đình túng thiếu nhưng phải dành dụm tiền đi thăm nuôi, ở trại tù Tiên Lãnh đi đường bộ, phải băng rừng lội suối và phải qua một cái dốc, gọi là dốc Lung, nếu độc giả có thân nhân ở tù TL  khó có thể quên cái dốc nầy nó cao vời vợi. Khi đi lên dốc tôi phải mướn người gánh đồ đi qua, nhưng vì dốc cao quá nên tôi đi theo không kịp. Người ta gánh đồ đi mất luôn, nên khi vào trại thăm Ba tôi chỉ có vỏn vẹn một bình đông nước lạnh! Lúc đó Ba tôi cho một cái ca làm bằng vỏ quả đạn, nhớ lại ngày đi thăm tù ở Tiên Lãnh, tôi  giữ nó làm kỷ niệm cho tới bây giờ. Cựu tù nhân thưở nào ở Tiên Lãnh nhìn lại kỷ vật, khó có thể quên được những tháng ngày nghiệt ngã, và nhớ lại những bạn tù đã bỏ mình nơi núi rừng xa vắng, trong đó có bác sĩ Lương quá tuyệt vọng uống thuốc tự tử, những sĩ quan xuất thân từ mái trường Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp…  luôn thể hiện tinh thần bất khuất.

Với truyền thống từ xưa „Quảng Nam hay cãi ..“ bởi vậy đàn ông Quảng Nam tinh thần cứng rắn, nhiệt tình thích hoạt động đấu tranh, chống lại bất công xã hội.. Nhưng đàn bà thì tình yêu không nở rộ tưng bừng, nhưng sâu lắng luôn thể hiện tấm lòng chung thủy, cần cù nhẫn nhục. Chồng đi tù, nhưng vợ ở nhà đảm đang lo cho các con, dành dụm tiềm đi thăm chồng không quản ngại nắng sương. Tôi xin phép vinh danh Mẹ và đàn bà của Quảng Nam mãi mãi trong lòng người ngưỡng mộ vô biên.

Ra hải ngoại, tôi thường nghe các nhóm Từ Thiện, giúp người trong nước, nhưng thời đó tôi chưa bao giờ nhận một chút quà nào từ phương xa! thương phế bình nghèo chết đói, không có tiền mua quan tài để an táng! Chính quyền mới không bao giờ giúp đỡ họ.

May mắn gia đình tôi đi theo diện HO. (Humanitarian operations). Làm lại cuộc đời thành công, bù lại những ngày đói khổ hận thù triền miên bên quê nhà.. Mỗi khi nhắc đến quê hương thì những hình ảnh nhọc nhằn lam lũ lại hiện về trong tâm trí. Mái nhà tranh xiêu vẹo núp sau bụi tre già cằn cỗi, những buổi sáng mùa đông, khi sương mai đang còn thấm lạnh, tay xách cái giỏ tre, đi theo sau con trâu bừa ruộng cấy, bắt những con cá rô đồng đem về dầm nước mắm ăn cơm, cho đỡ bớt tiền chợ. Nhớ những buổi trưa mùa hè, cưỡi lưng trâu ra tắm dưới hố bom, và nhớ những buổi chiều về, khi mặt trời đang tìm đường chạy trốn bỏ lại một chút hoàng hôn trên tản Đá Bàn cùng với hai chị em đang ngồi nhặt cho hết những lát sắn khô đem về nhà, giả thành bột làm bánh ăn cho qua những chuỗi ngày đói khổ…

Tôi biết Sơn là người thành công trên xứ Đức, Sơn may mắn hơn tôi có cuộc đời êm đẹp. Tên Hải là „biển“ nhưng tôi  phải lên núi làm người. Sơn là „núi“ nhưng bạn ra biển để tìm tương lai tươi sáng rạng ngời. Thế hệ chúng ta đã trải qua thời hậu chiến, thời gian trôi qua 34 năm, nửa đời người, kẻ còn người mất. Thời ấy dù nhà nghèo không đủ tiền đi học xa, nhưng tôi muốn ra Huế thi để thử sức mình, tận mắt  được nhìn sông Hương thơ mộng, với cầu Tràng Tiền xinh đẹp mà bao nhiêu sách vở đã hết lời ca ngợi. Ra Huế thi xong, 2 tháng sau, tôi nhận giấy báo nhập học, yêu cầu mang theo: sơ yếu lý lịch, và đơn xin chuyển „hộ khẩu“ Tôi đem giấy tờ ra cơ quan xã và gặp công an xin làm thủ tục để nhập học, tờ lý lịch của tôi được chứng nhận: „đương sự có cha đi học tập cải tạo, chưa được sự khoan hồng của cách mạng„. Còn việc chuyển „ hộ khẩu“ thì họ bảo : tôi nằm trong tuổi phải thi hành nghiã vụ quân sự không cắt „khẩu“,  họ cho đi thi nhưng lại không cho đi học.

Những đứa bạn cùng hoàn cảnh như tôi bây giờ cũng không ít, nên phải đành cam lòng cho số phận để cố gắng tìm cho mình một lối rẽ vào đời.. Tìm đường mưu sinh bằng cách đi đào đi bới những hố rác của Mỹ trước đây để tìm những cái bao cát củ như nhiều người đang đào bới những thứ gì dưới đất mà có thể bán được để kiếm sống. Tìm được bao cát giặt sạch, tháo ra từng sợi để dành khi nào nhiều xe lại và đánh thành những sợi dây thừng, đem đi bán cho người ta cột trâu, cột  bò, hay làm dây gàu múc nước. Công việc đào tìm bao cát càng ngày khó, nhưng đến khi đi bán, còn phải đi xa nửa, lên tận Hiệp Đức, Sơn Tân,  Bình Kiều, Trà Linh rồi xuống Hòn Kẽm Đá Dừng, „Ai lên hòn kẽm đá dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi! „ Dọc theo sông Thu Bồn xuống Trung Phước vượt Đèo Le về lại Đông Phú.Tôi đi lại nhiều lần nên đã thuộc lòng hết những địa danh những xóm nhà, những con đường làng hẻo lánh trên thượng nguồn của sông THU..

Sơn ơi! bạn chưa từng trải qua nhiều năm dưới chế độ CS. Khi sống chung với cộng sản rồi tất cả ai cũng thất vọng, không chỉ cá nhân tôi, mà mọi người ai cũng đều mong muốn thoát khỏi nơi đó. Ngày nay ở hải ngoại chúng ta có đủ kiến thức, không bị lừa dối, bịt miệng như dưới chế độ CSVN, phải có bổn phận đem ánh sáng chân thực cho thế hệ kế tiếp có cái nhìn đúng với lịch sử.. Chỉ có TỰ DO, DÂN CHỦ thực sự mới giải quyết được các vấn đề trọng đại của quê hương đất nước thân yêu của chúng ta.

Tôi nhận một loạt e.mail dài của Hải với những dòng tâm sự chân tình, dễ thương nhưng xót xa vết hằn của thời gian.. Hải định cư Mỹ đi học lại ở Michigan tốt nghiệp đại học học ngành (Information Technology). Hải còn cho biết nhiều bạn cùng quê hương Quảng Nam là con của sĩ quan, công chức chế độ VNCH, sang định cư Mỹ trễ nhưng đều thành đạt, tốt nghiệp đại học là: bác sĩ, kỹ sư, dược sĩ.. Hàng năm lễ Tạ ơn „Thanksgiving“ theo phong tục người Mỹ, nhưng người Việt Nam trong dịp nầy không phải tạ ơn chính phủ Mỹ, mà còn tạ ơn cha mẹ và những người đã từng chiến đấu bảo vệ tự cho Việt Nam…  (hình trên Thu Hương thế hệ thứ 2 theo diện HO tốt  nghiệp tiến sĩ cuối năm 2008 thân phụ cháu là người tù trại Tiên Lãnh)

Hoàn cảnh hai người bạn trưởng thành khác nhau và xa cách, nhưng trong tim vẫn còn vang một tiếng vọng của quê hương, luôn đấu tranh để dân tộc Việt Nam thoát khỏi chế độ CS độc tài, thối nát, tham nhũng và mong ước sớm mang lại thật sự no ấm, đất nước phú cường.

Nguyễn Quý Đại          (cảm ơn Hải đã kể cho tâm sự một thời đã qua)

Zwei Freunde    

Wir sind in Hội An[1] aufgewachsen. In den Erinnerungen an die Kindheit sind wir  gemeinsam in allen Stadtvierteln herumgetollt. Man konnte sagen, dass wir zwei jede einzelne Straße und alle Gassen in und auswendig kannten. An den Mauerfunda­menten dieser Straßen reihten sich Blumen verschiedenster Farben aneinander. Sie waren formvollendet und mit betörenden Düften, sie schlängelten verträumt im Glanz des Taus am frühen Morgen. In den Nächten mit hellem Mondlicht sah man auf den Yin und Yang[2] Dächern Algen und Windhauch sich gegenseitig friedlich zärtlich umarmen. Hội An, die 400 Jahre alte Stadt, ruht an einem grünen Fluss mit den Namen Hoài.

Am Ende den 16. Jahrhunderts wurde Hội An zum größten Handelszentrum in Đàng Trong[3]. Der christliche Geistliche Buzomi (1517-1639) kam 1615 nach Hội An, wo auch viele christliche Geistliche missioniert haben. Diese Tatsache steht in naher Beziehung mit der Erfindung der heutigen Nationalschrift Quốc Ngữ. Unter anderem haben hier der christliche Geistliche aus Portugal Francesco de Pina (1585-1625), der Jesuit Đắc Lộ Alexandre de Rhodes[4]  (1591-1660). Er kam als Missionar  nach Đàng Trong im Jahre 1625, in der Zeit des Fürsten Nguyen Phuc Anh (1563-1635), und nach Đàng Ngoài[5] zur Zeit des Fürsten Trịnh Tráng (1577-1657). Die Epoche in der Alexandre de Rhodes in Vietnam missionierte, war auch die Zeit, in der Missionsbrüder der Jesuiten von Süden bis Norden tätig waren. Obwohl Hội An mit den Kulturen aus aller Welt in Kontakt stand (sei es mit Frankreich, Holland, Italien, Portugal und Japan), besaß Hội An dennoch viele Pagoden, viele altertümliche Anbetungshäuser, jedoch lediglich eine christliche Kirche, eine evangelische Gemeinde und ein Anbetungshaus der Religionsgemeinschaft der Cao Đài [6]

Die Straßen waren leer von Fahrzeugen, deswegen hatten wir keine Angst vor Unfällen. Auf beiden Straßenseiten wuchsen Flammenbäume mit strahlend rötlicher Farbe begleitet von den traurigen Zirpen der Zikaden[7] . Gelegentlich hörten wir die Verkaufstimmen der Eisverkäufer, das Anpreisen der Erfrischungsgetränke, sogar die Schreie „wer will ngầu mạc nạm“[8], vom Onkel Drei, dem Chinesen, der Schweine am Spieß verkaufte.

Obwohl im Morgengrauen der Nebel sich noch nicht lichtete, vernahm man schon das Klopfen der Fischer auf dem Fluss Hoài, die Werbeschreie der Brotverkäufer, die der anderen für Tofu, für frisches Gemüse, für gekochte Muschel in knusprig gegrillten Reisblättern… Das Treiben der Stadt war nicht laut. Zu Zeiten des Krieges hatten die Truppen der Alliierten ihren Stützpunkt außerhalb der Stadt, manchmal sah man einige Jeeps koreanischer Offiziere, Amerikaner bei der Arbeit in der Zivilverwaltung, die Englisch unterrichten… und einige Ärzte, deutsche Krankenpfleger die im Krankenhaus von Hội An arbeiteten.

Das goldene Zeitalter von Hội An war in die Vergangenheit gerückt, an jenen Tagen war sie eine ruhige und traurige Stadt, ohne Kinos, ohne Hotels, nur kleine Lokale für Cao lầu[9] , kantonesische Nudelgerichte, vietnamesische Nudeln und Reisgerichte.

Die Zahl der Bevölkerung war nicht allzu hoch, der Akzent hier klang lockerer als die anderen Orte der Provinz Quảng Nam. Da die Stadt so klein war, sagte man üblich „thượng Chùa Cầu hạ Âm Bổn“ [10]. Das sagte schon aus wie eng der Bereich war, und dass eine gemeinschaftliche Lebensführung existierte. Was auch immer geschah, jeder erfuhr davon. Es brauchte sich nur ein Paar zu verlieben, und die Nachricht verbreitet sich in der ganzen Stadt. Deswegen führte üblich das sich Verlieben   auch zwangsweise zur Hochzeit. Seit dem 20. Jahrhundert machte von allen Städten Zentralvietnams Đà Nẵng[11] die stärkste Entwicklung in allen Bereichen wie Kultur, Wirtschaft, Außenpolitik,… durch.

Hội An wurde mit der Zeit vergessen! Aber in einer Sache blieb sie in Erinnerung: Hội An ist der Schatten, der tief ins Gedächtnis der Menschen geht, mit einer lebendigen Vergangenheit des Geistes und der Friedfertigkeit der Menschen der Provinz Quảng Nam. Obwohl ich ein Leben des Exils führe, ist meine Erinnerung an die Kindheit immer schön. Nach dem 30.4.1975 wurden Hải und ich 8 Jahre alt und mussten Hội An aus zwei vollständig verschiedenen Gründen verlassen.

Anfang März 1975 war der Krieg überall in Zentralvietnam blutrünstig. Alle Truppen von Quảng Nam mobilisierten sich nach Đà Nẵng: Tam Kỳ, Vĩnh Điện wurden von den kommunistischen Fußtruppen, eskortiert von T54  Panzern, erstürmt… In Hội An herrschte zwar noch Ruhe, aber sie wurde isoliert und man konnte nicht einmal auf dem Fußweg nach Đà Nẵng! Die Familie von Hải lebte im Bereich von Gia Binh, der Vater von Hai hatte das Kommando an der vordersten Front, deswegen konnte seine Familie nicht flüchten. Meine Familie flüchtete vom Flussarm Cửa Đại und mietete einen Fischerboot. Auf den Wellen hin und her schaukelnd brachte es uns dann zum Militärschiff auf dem Meer. Eine ganze Flut von Menschen nutzte alle Möglichkeiten,  um es zu den Schiffen der Kriegsmarine zu schaffen,  in der Hoffnung nach Sài Gòn zu kommen. Das geschah  als wir hörten, dass Präsident Thiệu den Befehl aussprach Đà Nẵng aufzugeben, um die Schlacht woanders zu führen. Es war eine Szene der schmerzhaften Umsiedlung mit toten Menschen und unzähligen Verletzten durch die Patronen und Geschütze der kommunistischen Truppen. Menschenblut ergoss sich über den weißen Meeresstrand und färbte diesen tiefdunkel wie Maulbeeren!

In Sài Gòn angekommen, kam unsere Familie bei Verwandten unter. Obwohl unbequem, waren wir hier wenigstens vorläufig sicher und froh, dass wir der kommunistischen Plage entronnen sind. Doch die Freude hielt nicht lange an, und auch Sài Gòn ereilte das gleiche Schicksal, nachdem Präsident Dương Văn Minh die Truppen der südvietnamesischen Republik dazu aufrief, die Waffen fallen zu lassen… Was hatten wir unter den  Veränderungen von Saigon und was hatte der Süden unter dem kommunistischen System erleiden müssen! Man soll nicht das schmerzhafte Leid vor 34 Jahren wiederholen, das nicht einfach zu vergessen ist.

Meine Familie ist nicht mehr nach Hội An zurückgekehrt, weil wir gehört haben, dass sich die Kader in den Wohnhäusern für Staatsbeamte hinter der Viên Giác Pagode einquartierten haben. Diese hatten meine Eltern gekauft, und so verlor meine Familie das warme Nest um zurückzukehren. In Sài Gòn hatten wir keine Anmeldebescheinigung für die Familie. Nach dem System der Wohnmeldebescheinigung des kommunistischen Systems mussten aber Lebensmittelmarken für den Kauf von Lebensmittel eingesetzt werden, die man nur erhielt, wenn man eine Anmeldebescheinigung vorweisen konnte.

Zum Glück musste mein Vater nicht ins Konzentrationslager. Er war nur Lehrer, da seine Wehrpflicht aufgrund von Familienverhältnissen aufgeschoben wurde, und er nicht in die Offiziersschule in Thủ Đức einrücken musste wie die anderen Kollegen, die ins Konzentrationslager gehen mussten…  Meinen Eltern wurde die Erlaubnis zu unterrichten entzogen, deswegen ging meine Familie zur Straßengabelung des Herrn Đồn und kaufte sich dort ein Garten als neue Lebensgrundlage. Das Leben in meiner Kindheit schwenkte sich schlagartig um 180 Grad. Sie wurde erbärmlich mühsam und ich hatte stets zu wenig zu essen. Außerdem fehlten mir Bücher und Hefte für die Schule. In der Schule mussten wir Schüler „Arbeitsübungen“ machen, mussten zum Beispiel Müll sammeln, damit die Regierung ihn verkauften konnte, um mit dem Geld daraufhin den Zug der Einheit herzustellen.

Meine Eltern beschlossen, dass wir aufs Meer flüchten mussten. Nach einigen Tagen auf dem Meer fehlte es auf dem Kahn an Nahrungsmittel und Wasser…Zum Glück fischte uns das Transportschiff „Ville De Pluton“! Es trug die deutsche Flagge. Der gütige Kapitän Helmut Lorenz und seine Seemannschaft zogen uns aus dem Wasser, noch bevor ein großer Sturm kam, der unser Boot in den Meeresgrund des indischen Ozeans herunterdrücken konnte. So galt es für uns von dem Tage an, immer an das Schiff „the ship, which we never forgot“ zu erinnern. Vorerst kamen wir in das Lager in Hongkong und danach siedelten wir nach Bayern. Jede Familie begann ein neues Leben. Meine Eltern mussten harte körperliche Tätigkeiten verrichten, nachdem wir Deutsch gelernt haben. Sie waren zwar Akademiker, aber ihr Abschluss wurde in Deutschland nicht wie in den USA anerkannt. Und so mussten sie auch am Wochenende eine zusätzliche Ausbildung machen, um ein gutes Vorbild für die Kinder zu geben,  und so bauten sie ihr Leben allmählich wieder auf. Jederzeit prägten uns die Eltern ihre Grundsätze ein: Lernt, damit ihr den gleichen Status wie die Einheimischen erreicht. Das ist ein Beweis, dass wir uns in Deutschland gut integrieren. Aber wir Kinder sollen neben den erreichten Abschlüssen auch danach streben, gute MENSCHEN zu sein. Wir sollen uns selbst besiegen, Bescheidenheit zeigen, ehrenwerte Leute werden, nett sein und Freundlichkeit zu den Mitmenschen demonstrieren. Ein glückliches und friedliches Leben entsteht dadurch, dass man sich keine Feindschaften schafft und Missgunst erweckt. Gute Eigenschaften haben die Menschen wenig, aber umso mehr schlechte: Angeberei, Wut und Hass, Geldgier und die Sucht nach Ruhm… Das eigene verächtliche Ego zur Schau zu stellen, führt zwangsweise zur totalen Niederlage im Leben, gleichgültig auf welchem Teil dieser Erde man sich gerade befindet….

Wir haben Deutschland als unsere zweite Heimat angenommen und müssen uns integrieren. Wir werden uns zum Positiven richten, wir werden aufsteigen, damit wir Stolz sein können, dass wir vom Geschlecht der Lạc Hồng[12] stammen. Wir mit unserer heldenhaften Historie beim Widerstand gegen die Eroberer aus dem Norden. Unsere Heimat reicht von Ải Nam Quan bis Cà Mau[13]. Die jüngere Generation ist in der Unterstufe und in den Universitäten erfolgreich geworden. Das lässt die anderen Ausländer ehrfürchtig auf die traditionelle Erziehung einer vietnamesischen Familie blicken. Die Deutschen hegen dadurch auch mehr Sympathien für die Vietnamesen: „Die  Quote der Abiturienten mit vietnamesischen Wurzeln ist höher als die der Deutschen. Wenn man das mit denen der italienischen und türkischen Wurzeln vergleicht, dann ist das Verhältnis fünfmal so hoch.“ heißt es laut der Zeitung „Die Zeit“, Nr. 5 vom 22.01.2009.

Wir sind mehr als 80.000 boat people und Überwinder der Mauer[14] mit prächtiger Existenz. Wir haben fleißige und lerneifrige Kinder mit beachtenswerten Erfolgen, und das alles erreichten sie nur durch die Anfangshilfe der Regierung, die uns eine Chance gab, damit wir unsere Köpfe erheben konnten. Doch in jeder Gemeinschaft gibt es mit Sicherheit nicht zu vermeidende Schattenseiten, die man trefflich mit dem Sprichwort „eine Raupe verdirbt den ganzen Suppentopf“ bezeichnen kann. Mit fast 30 Jahren in der Fremde, haben wir alle viele traurige Erinnerungen. Dennoch kann ich nicht Hải vergessen, meinen Freund aus dem Kindesalter. Jeder von uns befindet sich in einer anderen Himmelsrichtung, ohne die Möglichkeiten zu haben, gegenseitig Kontakt aufzunehmen. Wie aus heiterem Himmel bekam ich wider Erwarten am Ende des letzten Jahres eine Email durch die Weiterleitung einer Zeitung: „Ich hoffe, einen alten Freund wieder zu finden. Wenn es um eine Verechslung wegen des Namens gibt, dann hoffe ich, dass Sie mir in dieser Angelegenheit verzeihen und die Sache vergessen.“ Die Email hatte folgenden Inhalt:

„Ich schwelge in den Erinnerungen der Kindheit. Wir befinden uns unter dem Dach der alten Schule und mit den von gelben Blättern gesäumten Straßen, wo wir als Kinder gespielt hatten…

Das Leben kann sich schnell ändern, und jeder von uns hat sich in eine andere Richtung verschlagen. Wie war es in Deinem Fall, Sơn? Für mich bedeutet die Heimat erbärmliche Tage. Meine Kindheit war längst verloren. Nach dem 30.04.1975 wurde meine Familie aus dem Bereich Gia Binh rausgeschmissen, und mein Vater wurde in das Konzentra­tionslager Tiên Lãnh eingesperrt. Meine Familie musste Hội An verlassen, um in den so genannten „Gebieten der Neuen Wirtschaft“ sich anzusiedeln. Eine Menschentruppe folgte der anderen. Fast jeder schleppte mit einem Arm Kinder und auf den Schultern ihre Sachen. Nach einem Tag Fußmarsch, gelangten wir endlich zu einem einsamen und zerstörten Brachland. Dort wuchs kein einziger größerer Baum, der uns kühlen Schatten spenden konnte. Es gab da nichts außer Gras und einige Büsche Zwergdattelpalmen. Die ganze Jugend aus den Regionen von Hương An, Bà Rén musste hierhin, um das Land fruchtbar zu machen. Ebenfalls lag es in ihrer Pflicht, Minen, übrig gebliebene Bomben und Patronen zu suchen. Und den Leuten bei der rechtzeitigen Erledigung ihrer Saisonarbeit zu helfen, lag ebenso in ihrem Aufgabengebiet. Tagsüber teilten sich diese Jugendliche in Trupps und machten sich auf, um die Äcker zu bestellen. Nachts wenn der Mond gerade mal die Höhe der Bambusspitzen erreicht hat, mussten sie sich in Gruppen versammeln, um Politik zu lernen und zu erörtern. Das zog sich dann bis Mitternacht… Ich kann als Zeitzeuge Zeugnis ablegen, wie weit das Menschen verachtende Verhalten der Kader, Guerillas und der Gruppenleiter der Gemeinde reichte: Sie zwangen einen ehemaligen Soldaten dazu, auf einen Bambusbusch zu klettern. Er sollte Bambus in kleine Stücke hauen. Der Bambusast war noch nicht auf den Boden heruntergefallen, doch der Aufseher zog bereits an dessen Spitze, und als Folge darauf bog sich ein halber Baumbußtamm und schleuderte in die Gegenrichtung. Dabei stieß er in den Bauch jenes Mannes. Das Blut floss einfach unaufhörlich, aber sie setzten die Leiter woanders ab und schnauzten frech: „Los, spring doch runter. Wenn dir der Mut fehlt, warum bist du auch zu einem Soldaten der ngụy[15] geworden?“ Ich hatte Mitleid für diesen Mann und holte einen Bambusstamm mit besonders vielen Zweigen, und stellte ihn auf, damit er herunterklettern konnte. Das war nur ein Beispiel für die vielen Racheakte, die ich mit meinen eigenen Augen bezeugen konnte. Der kommunistischen Kader mangelte es an Anstand, zugleich erhielt sie aber sehr viele Privilegien. Sie verfügte über wenig Talent und Verstand und dennoch einen hohen Status. Wenig Verdienste gepaart mit hohen Entlohnungen – das ist das Recht des Siegers. Sie sind ohne Wissen und ungebildet   deswegen musste ich ihnen Unterricht am Wochenende geben. Die Opfer in dem Krieg wurden ehrenvoll als „liệt sĩ“ (Gefallene) betitelt und der Bevölkerung wurde aufgebürdet, ihnen Gedenkmäler zu bauen. Wir mussten ihre Skelette auffinden, um einen Friedhof zu bauen. Anschließend wurde der Friedhof tatsächlich gebaut. Aber unter den Grabsteinen befanden sich keine Skelette. Da haben sich zahlreiche Menschen für die kommunistische Ideologie aufgeopfert, und mit Absicht dankte man ihnen mit Vergessenheit. Deswegen war es in Vietnam nichts Erstaunliches oder etwas Neues, wenn die Kader nicht zögerten, das Geld von den Armen zu nehmen.

In den Jahren ’75 und ’76, während der „giáp hạt“ Tage (d.h. an den Tagen am Ende der Erntezeit), wenn es zu Hause keinen Reis mehr gab, und er aber auf den Äckern noch nicht reif war, hatte meine Familie nichts mehr zu essen. Die ganze Familie musste Süßkartoffeln essen, um die fehlenden Mahlzeiten auszugleichen. Zu der damaligen Zeit mussten zudem meine Kameraden und ich einmal in der Woche einen halben Tag in der Schule bleiben, um dort zu arbeiten. In jenen Tagen musste ich immer einige Knollen Süßkartoffeln als Mittagsverzehr mitnehmen. Da ich mich aber deswegen vor meinen Kameraden schämte, aß ich sie heimlich auf dem Schulweg. Gia, ein Schulkamerad, konnte meine Situation nachvollziehen, deswegen teilte er immer einen halben Reis ball mit mir. Es war mit Salz und Sesam gewürzt und schmeckte leicht salzig bitter…

Im Sommer 1980 wurden die Grundstücke und Äcker vom Staat konfisziert und den Kommunen übertragen. Übrig blieb uns dann ein kleiner Garten für die Zucht von Hühnern und Enten. In diesem Jahr gab es eine große Dürre, und die armen Bauern gerieten in große Not. Auf dem Feld vertrocknete das Getreide, und verbrannte das Gras, in den Häusern standen die Leute mit verschränkten Armen und sahen zu, wie Bananenstauden um die Gärten herum durch die Hitzewelle langsam und langsam starben und verdarben. In der ganzen Nachbarschaft hoffte man nur noch auf den Brunnen am Dorfeingang. Alles war vertrocknet. Immer wenn der Hahn krähte, hörte man bereits das Klappern der Wasserkanister der Leute, die sie nachts schleppten. Meine Familie ergriff dann den Beruf des Blatthutmachers. Meine Geschwister und ich versammelten uns und stellten Hüte her. Meine Mutter brachte unsere Produkte dann zur Flussquelle, um sie dann in Reis und Mais umzutauschen. Damit bestritten wir unseren Lebensunterhalt von einem Tag auf den anderen und sparten Geld an, um meinen Vater im Konzentrationslager zu besuchen. Er  litt dort ebenfalls.

Im Ausland angekommen, hörte ich immer von den Wohltätigkeitsorganisationen, die Menschen im Inland helfen, aber zu meiner Zeit in Vietnam hatte ich nicht ein einziges Geschenk aus der Ferne erhalten! Auch die Kriegsinvaliden verhungerten und starben und es gab für sie nicht einmal Geld, um ihnen einen Sarg zu kaufen, damit sie begraben werden konnten.

Zum Glück konnte meine Familie im H.O. (Humanitarian operations) – Verfahren ins Ausland und so ein neues Leben beginnen, das dann auch ein Erfolg wurde,  um die Tage des Hungerns und Leidens und unendlichen Hasses in der Heimat auszugleichen. Immer wenn von der Heimat gesprochen wird, dann tauchen die Bilder des Leidens und der Not wieder in meinem Geiste auf. Ich sehe dann das grüne schief hängende Glasdache hinter dem betagten Bambusbusch. Ich erblicke diejenigen Morgenstunden im Winter, als der Tau des Morgens noch kalt war. In der Hand hielt ich die Tasche aus Bambus und folgte dem Wasserbüffel, der den Acker bestellte. Ich fing die Kletterfische aus dem Acker. Zu Hause tunkte ich sie in Fischsoße und aß sie zum Reis, um Geld für den Einkauf zu sparen. Ich erinnere mich ebenfalls an die Mittage im Sommer, an denen ich auf dem Büffelrücken ritt und im Tümpel badete, der durch Bombeneinschläge entstand. Und ich erinnere mich an die Nachmittage,  wenn ich nach Hause kam als die Sonne unterging und ein paar Sonnenstrahlen auf einen großen Felsen hinterließ. Darauf saßen die beiden Schwestern, denn sie sammelten sorgfältig die letzten Reste der Maniokknollenstücke, die zum trocknen ausgelegt wurden, und trugen sie nach Hause, um dort diese zu zermahlen und Kuchen zu machen. So überlebten sie die aneinander reihenden Tage des Hungerns.

Ich weiß, dass Du, Sơn, und die Vietnamesen in Deutschland Erfolg hatten. Sơn, Du hattest mehr Glück als ich und hattest ein schönes, ruhiges Leben. Ich, Hải,  bin das Meer und musste trotzdem auf dem Berg rauf, um erwachsen zu werden. Sơn, Du bist ein Berg und musstest auf das Meer raus, um eine klare Zukunft zu finden[16]. Es gibt Leute, die noch heute da sind, und solche, die dabei umgekommen sind… Ach Sơn, Du hast nicht die Jahre unter dem Kommunismus erleben müssen. All diejenigen, die einmal unter dem Kommunismus gelebt haben, erfahren Enttäuschungen. Nicht nur meine Familie, sondern alle wollten und hofften es, von dem Ort wegzukommen. In der heutigen Zeit im Ausland haben wir alle genug Intellekt erworben, um noch betrogen und mundtot gemacht zu werden wie im kommunistischen System Vietnams. Wir haben die Pflicht, das Licht der Wahrheit der nächsten Generation weiterzugeben, damit sie die wahre Geschichts­schreibung sehen können.Nur FREIHEIT, DEMOKRATIE kann wirklich die großen Ange­legenheiten unseres so geliebten Heimatlandes lösen.

Ich erhielt eine ganze Reihe von langen Emails mit Zeilen, worin Hải sein Herz ausschüttete. Sie sind liebenswürdig und trotzdem enthielten sie voller Folterspuren der Zeit. Hải hat sich in den USA, Bundesstaat Michigan eingerichtet und dort einen Abschluss in der Medizin gemacht. Er verriet mir, dass er noch viele Freunde aus derselben Heimatprovinz Quảng Nam kennt, die Kinder von Staatsbeamten der alten südvietnamesischen Republik waren. Und obwohl sie verspätet in den USA kamen, hatten sie dennoch etwas aus sich gemacht. Alle sind auf die Universität gegangen und haben bestanden. Nun sind sie Ärzte, Ingenieure und Apotheker geworden. In jedem Jahr zur Erntedankfest „Thanksgiving“ bedanken sich die dortigen Vietnamesen nach amerikanischem Brauch nicht nur bei der Regierung, sondern auch bei den Menschen, die als Kämpfer die Freiheit von Vietnam beschützt hatten. Das war die Geschichte über die Situation von zwei Freunden, die auf verschiedene Wege aufgewachsen sind und weit voneinander wohnen, aber trotzdem in ihrem Herzen noch ein Echo der Hoffnung für die Heimat besitzen, und immer dafür kämpfen und hoffen, dass das vietnamesische Volk wirklich satt wird und es warm haben, und Vietnam das Land des Wohlstandes wird. Die vietnamesische Gemeinschaft der Flüchtlinge in Bayern erinnert diesmal an die 30 Jahre, um sich bei der  Regierung und den Deutschen zu bedanken, die eine Tat mit großem Sinn vollbracht haben, und um zu zeigen, dass die vietnamesische Tradition Schuldigkeit kennt und Dankbarkeit zeigt. „Beim Früchte essen den Pflanze des Baumes nicht vergessen!“ Das ist die Chance, „die es nur einmal in 1000 Jahren gibt“. Die Vietnamesen geben ein Treffen mit ihren Wohltätern, Kapitänen, Matrosen von Schiffen, die sie vom Indischen Ozean gerettet haben, um die die fröhlichen und traurigen Erinnerungen eines Lebens im Exil herbeizurufen. Wir setzen ehrfürchtig Weihräucherstäbchen auf und zünden sie hochachtungsvoll an, ganz zu Ehren der verstorbenen Wohltäter: des Schriftstellers Heinrich Böll, des Bundespräsidenten Johannes Rau (er war auch ehemaliger Ministerpräsident von Nordrhein-Westfalen), der Menschen, die leider auf dem Meer oder auf dem Landweg verstorben sind,

„Hier bedanken sich die vietnamesischen Asylanten unendlich und aus ganzem Herzen… Sie haben uns herausgefischt aus dem Ozean des Ostens. Haben uns gerettet, als unser Leben am seidenen Faden hing, weil der Gott des Meeres gerade erböst war. All diese Menschen, die eine andere Hautfarbe haben, all diese Menschen mit einer anderen Sprache. Aber im Herzen tragen sie dieselbe Liebe zu der Menschheit..

Nguyễn Quý Đại

(Erinnerung an 30 Jahre Flüchtlingsdasein 1979-2009)


[1] Hội An: Name einer Stadt,  Hội An bedeutet wortwörtlich aber auch friedliche

Zusammenkunft, weil die Stadt ein Schmelztiegel der Kulturen ist.

[2] Yin und Yang Dächer: eine klassische Architektur, wobei zwei Dachpfannen gemeinsam die Form des Buchstaben S bilden und zusammen verbunden werden. Diese Welle wird so genannt, weil die Welle nach unten Yin darstellt und die Welle nach oben Yang.

[3] (Đàng Trong: anderes Wort für den Süden Vietnams, also das heute Zentralvietnam, weil Vietnam zu alten Zeiten nur aus den Norden bestand.

[4] Đắc Lộ: Đắc ist eine vietnamesische Umschreibung für Alexandre, Lộ für Rhodes, da die damaligen Vietnamesen den Namen nicht richtig aussprechen konnten.

[5] Đàng Ngoài ist ein veralteter Name für Nordvietnam

[6] Cao Đài: Eine synkretische Religionsgemeinschaft, die sehr stark in Südvietnam verbreitet ist.

[7] Flammenbäume und Zikaden sind auch Symbole der Unschuld und der Schulzeit.

[8] Ngầu mạc nạm: ein durchgegartes Rindergericht, das sehr preisgünstig und zugleich wohlschmeckend ist.

[9] Cao lầu: Eine Nudel-Spezialität aus Hội An. Die Reisenudeln sind gelblich und man isst dazu Krebse, Schweinefleisch und frisches Gemüse. Es ist aber keine Nudelsuppe.  Als Kenner weißt man, dass sie eigentlich doch keine Nudeln sind. Die Farbe kommt übrigens von dem Holz, der dann zur Asche gebrannt wird.

[10] thượng Chùa Cầu hạ Âm Bổn“ Die Bezeichnung „zuerst Chùa Cầu dann Âm Bổn“ bezeichnet die zwei Wahrzeichen von Hội An, wobei Chùa Cầu eine Pagode japanischer Architektur ist, die auf einer Brücke ruht, und als sehr berühmt gilt.

[11]  „Đà Nẵng: derzeit größte Hafenstadt Vietnams.

[12] Lạc Hồng: das mythische Geschlecht, von denen die Vietnamesen abstammen

[13] Ải Nam Quan ist die Nordspitze von Vietnam. Durch seine geographische Lage inmitten von Bergen bildet sie einen strategischen Schutzwall gegen das eroberungswütige Reich der Mitte. Cà Mau bildet die Südspitze von Vietnam.

[14] Mauer: Berliner Mauer, gemeint sind hier die Flüchtlinge nach der Vereinigung Deutschlands.

[15] ngụy: alte beleidigende Bezeichnung für Herrscher und Regierungen, die angeblich unrechtmäßig die Herrschaft erhalten haben.

[16] Wortspiel, Hải ist ein Eigenname und bedeutet Wasser, Meer. Sơn ist ebenso ein

Eigenname und bedeutet Berg. Zugleich sind Wasser und Erde gegensätzliche Elemente.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s